Chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ

Trải qua tám năm chiến đấu đầy khó khăn gian khổ, rất kiên cường và dũng cảm, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ của quân, dân ta đã giành được nhiều thắng lợi rất quan trọng. Về phía địch, tuy đã nhiều lần thay đổi Cao ủy và Tổng chỉ huy, tăng quân và phương tiện chiến tranh, nhưng ngày càng lún sâu vào thế bị động, ngày càng chuốc thêm nhiều thất bại nặng nề. Nhằm cứu vãn tình thế, thực dân Pháp, với sự hậu thuẫn của đế quốc Mỹ, cho ra đời kế hoạch Navarre.

Mục đích quân sự của kế hoạch Navarre là giành một thắng lợi chiến lược trong vòng 18 tháng để kết thúc chiến tranh. Cụ thể, trong thu-đông 1953 và mùa xuân 1954 thực hiện tiến công chiến lược ở miền nam, giữ thế phòng ngự chiến lược, tránh quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền bắc để có điều kiện tổ chức một khối cơ động chiến lược mạnh; vào đông xuân 1954-1955, sẽ tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền bắc, giành thắng lợi quyết định. Trước những diễn biến mới của tình hình, Trung ương Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích thế chiến lược, đánh giá so sánh lực lượng địch, ta và nhận định thời cơ giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến lâu dài đã đến. Mục tiêu đề ra là phải đập tan kế hoạch Navarre, không cho đối phương thực hiện được ý đồ tập trung lực lượng cơ động chiến lược để giành lại thế chủ động trên chiến trường chính.

Giữa tháng 11-1953, Ðại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc mở chiến dịch tiến công giải phóng Lai Châu. Phát hiện sự di chuyển của bộ đội chủ lực ta lên hướng Tây Bắc, ngày 20-11-1953, Navarre vội vã mở cuộc hành quân Ca-xto, đổ sáu tiểu đoàn xuống Ðiện Biên Phủ. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng ta họp, sau khi nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm, đã quyết định mở chiến dịch Ðiện Biên Phủ, cử Bộ chỉ huy chiến dịch do Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, làm Chỉ huy trưởng, kiêm Bí thư Ðảng ủy mặt trận.

Triển khai kế hoạch tác chiến đông xuân 1953-1954, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp mở đợt tiến công mạnh mẽ trên khắp các chiến trường, hình thành các đòn tiến công chiến lược.

Tại Lai Châu, ngày 10-12-1953, ta bắt đầu đánh vào thị xã. Qua 12 ngày đêm liên tục tiến công, truy kích, bộ đội ta đã tiêu diệt và bức hàng 24 đại đội địch, giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu, uy hiếp Ðiện Biên Phủ về phía bắc. Thiệt hại nặng ở Lai Châu và biết quân ta đang cơ động lên Tây Bắc, Navarre quyết định tăng cường lực lượng cho Ðiện Biên Phủ, từng bước biến Ðiện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm- một hình thức phòng ngự liên kết nhiều cứ điểm và cụm cứ điểm trên một không gian tương đối rộng, có lực lượng tập trung lớn (cả binh lực và hỏa lực), hình thành lực lượng chiếm đóng và lực lượng cơ động mạnh được tổ chức chỉ huy chặt chẽ, có công sự vững chắc, vật cản phức tạp có khả năng ngăn chặn những cuộc tiến công trực tiếp vào khu vực phòng ngự.

Trên chiến trường nước bạn Lào, lợi dụng chỗ yếu nhưng là vị trí hiểm yếu của địch, cuối tháng 12-1953, bộ đội ta phối hợp Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Trung Lào, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng căn cứ, thu hút phân tán lực lượng địch. Bị thất bại nặng, Navarre buộc phải điều thêm lực lượng sang, cùng lực lượng tại chỗ thành lập một tập đoàn cứ điểm ở Xê-nô. Sau chiến thắng Trung Lào, bộ đội Lào - Việt tiếp tục phát huy thắng lợi tiến sâu xuống Hạ Lào giải phóng thị xã A-tô-pơ và toàn bộ cao nguyên Bô-lô-ven. Thừa thắng, một đơn vị chủ lực ta tiến xuống phía nam phối hợp cùng quân giải phóng Ít-xa-rắc của Cam-pu-chia giải phóng Vơn Sai, Xiêng Pạng, uy hiếp Stung Treng, tiến về phía sông Sơ Lông. Mặt khác, quân tình nguyện Việt Nam cùng quân giải phóng Ít-xa-rắc ở miền đông Cam-pu-chia hoạt động từ phía nam, giải phóng phần lớn Công Pông Chàm, tiến lên sát sông Sơ Lông.

Trên mặt trận Tây Nguyên, ta chủ trương sử dụng một lực lượng chủ lực đối phó cuộc hành quân Át-lăng của địch ở vùng tự do Liên khu 5, đồng thời tập trung lực lượng mở chiến dịch bắc Tây Nguyên, tiến công địch trên địa bàn tỉnh Kon Tum và Gia Lai. Kết quả, ta giải phóng thị xã Kon Tum, quét sạch quân địch ở bắc Tây Nguyên; quân Pháp phải ngừng đánh phá ở đồng bằng Liên khu 5, vội điều 11 tiểu đoàn ở Nam Bộ và Bình Trị Thiên lên Tây Nguyên, tổ chức hai tập đoàn cứ điểm ở An Khê và Plây Cu.

Ðể đánh lạc hướng phán đoán của địch, tiêu hao thêm một bộ phận sinh lực địch, buộc chúng phải tiếp tục phân tán binh lực, cuối tháng 1-1954, bộ đội ta phối hợp với Quân giải phóng Lào tiến công địch ở Thượng Lào. Ðịch hốt hoảng tháo chạy khỏi khu vực sông Nậm Hu, lực lượng ta và bạn truy kích địch theo hướng Mường Khoa - Mường Sài và Nậm Bạc- Luông-pha-băng. Với đòn tiến công chiến lược này, ta tiếp tục tiêu hao một lực lượng lớn quân địch, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu, giải phóng Phong-xa-lỳ. Lo sợ ta đánh thẳng vào kinh đô Lào, địch gấp rút tăng cường lực lượng cho Luông Pha-băng và Mường Sài.

Bằng các đòn tiến công chiến lược nói trên, ta chẳng những tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, mà còn làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của địch ở vùng đồng bằng, buộc chúng phân tán khắp nơi để đối phó với ta. Ðồng thời với các đòn tiến công, quân và dân ta tích cực đánh địch ở các chiến trường trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, đẩy địch vào thế bị động đối phó khắp nơi.

Sự phối hợp chiến đấu rộng khắp của các lực lượng vũ trang nhân dân ta và bạn trên toàn Ðông Dương, làm cho  quân địch ở Ðiện Biên Phủ lâm vào thế bị cô lập.

Ðến cuối tháng 1-1954, trước những biến đổi tình hình ở Ðiện Biên Phủ, địch tăng cường thêm binh lực, củng cố, bố trí công sự trận địa thêm vững chắc. Ðể bảo đảm "đánh chắc thắng", Ðảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Theo đó, Ðiện Biên Phủ trở thành một chiến dịch quy mô lớn, diễn ra trong một thời gian khá dài, gồm cả một loạt trận đánh trong công sự vững chắc kế tiếp nhau cho đến khi quân địch hoàn toàn bị tiêu diệt.

Ðể bảo đảm thắng lợi cho trận quyết chiến chiến lược, ta đã tập trung ở mặt trận Ðiện Biên Phủ một lực lượng lớn, gồm các đại đoàn bộ binh 308 (ba trung đoàn 102, 88, 36); 312 (ba trung đoàn 141, 209, 165); 316 (hai trung đoàn 174, 98; 304 (trung đoàn 57); Ðại đoàn công pháo 351; Trung đoàn 367 cao xạ, các đơn vị thông tin vận tải (16 đại đội), quân y, v.v, quân số khoảng 55.000 người và 260.000 dân công. Phương tiện và vật chất huy động gồm 628 ô-tô, 11.800 thuyền, 20.000 xe đạp thồ và các loại xe thô sơ, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh.

Chiều 13-3-1954, chiến dịch Ðiện Biên Phủ bắt đầu và trải qua ba đợt. Ðợt 1 (từ ngày 13 đến 17-3), ta phá vỡ phòng tuyến vòng ngoài của địch ở phía bắc, đông bắc và tây bắc bằng trận Him Lam (ngày 13-3), trận đồi Ðộc Lập (ngày 15-3), bao vây, bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo (ngày 16-3), buộc Pháp phải tăng lực lượng phòng thủ các điểm cao phía đông bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh. Ðợt 2 (từ ngày 30-3 đến 30-4), sau hơn 10 ngày xây dựng trận địa, đào hàng trăm ki-lô-mét giao thông hào, làm hàng nghìn công sự và ụ súng các loại, ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm trên dãy đồi phía đông và các cứ điểm trên hướng tây bắc sân bay Mường Thanh, nhưng đánh một số cứ điểm (A1, C2, 105) không thành công và bị địch phản kích chiếm lại nửa đồi C1. Từ ngày 16-4, ta phát triển trận địa bao vây, tiến công, đào hào, chia cắt sân bay Mường Thanh, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, kết hợp bắn tỉa và đưa pháo phòng không xuống cánh đồng Mường Thanh, khống chế, triệt đường tiếp tế hàng không của địch. Ðợt 3 (từ ngày 1 đến 7-5), ta lần lượt chiếm các cứ điểm còn lại ở phía đông, diệt một số các cứ điểm ở phía tây, uy hiếp Sở chỉ huy và dập tắt hy vọng rút chạy của địch. Chiều 7-5, ta thực hiện Tổng công kích vào trung tâm Mường Thanh, bắt tướng Ðờ Cát và toàn bộ Ban tham mưu của tập đoàn cứ điểm. Chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954.

Cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954 là cuộc tiến công quy mô lớn nhất và đạt được hiệu quả tiêu diệt địch, giải phóng đất đai cao nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tính chung trên tất cả chiến trường, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 112.000 tên địch, bằng một phần tư  quân số của chúng ở Ðông Dương. Riêng ở mặt trận Ðiện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt và bắt làm tù binh khoảng 16.200 tên địch, gồm 21 tiểu đoàn, hầu hết là những đơn vị tinh nhuệ của quân viễn chinh Pháp. Số máy bay địch bị bắn rơi trong đông xuân 1953-1954 là 117 chiếc, chiếm một phần ba tổng số máy bay của quân Pháp ở Ðông Dương. Các phương tiện chiến tranh và cơ sở vật chất kỹ thuật khác cũng bị tiêu hao và phá hủy với khối lượng rất lớn,  làm cho quân Pháp không thể có cách gì bù đắp được.

Cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953-1954 đã làm cho kế hoạch Navarre của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ bị phá sản hoàn toàn.

Chiến thắng to lớn trong đông xuân 1953-1954 giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo điều kiện thắng lợi cho đấu tranh ngoại giao, dẫn đến thắng lợi của hội nghị Giơ-ne-vơ về Ðông Dương, buộc Pháp và các nước tham dự hội nghị phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Thắng lợi to lớn của ta trong đông xuân 1953-1954 chứng minh sức mạnh vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng, sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang nhân dân; tinh thần đoàn kết chiến đấu Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, sự nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ của các nước: Trung Quốc, Liên Xô và các nước XHCN, của cả loài người tiến bộ trên toàn thế giới.

-------------

(1) Lê Duẩn. Dưới lá cờ vẻ vang của Ðảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.90.

Có thể bạn quan tâm