"Hỡi thế gian tình là chi..."
Sống qua quá nửa thế kỷ rồi, tôi mới sững sờ nhớ ra mình còn có một đời vợ nữa. Người vợ ấy, chỉ có một người duy nhất chứng kiến chính là mẹ tôi, nhưng thương thay, bà đã nhập vào đoàn vong linh của hai triệu người chết đói năm Nhật đảo chính Pháp. Chuyện có thật mà như mơ, rồi rơi vào quên lãng, quên lãng đến vô tình.
Vào cái tháng ba năm Ất Dậu, hầu như làng tôi ngày nào cũng có người chết, người này vừa ra nghĩa địa, ở nhà lại có người khác trút hơi thở cuối cùng. Cái chết cái sống gặp nhau, như đồng hành với nhau. Cái sống thì da bọc xương, vất vưởng, cái chết cuộn tròn trong manh chiếu lặng lẽ, thê thảm ra đi. Mẹ tôi và mẹ chị, hai bà rất thân nhau vì cùng cảnh ngộ, vì đã nhìn thấy thần chết ẩn náu trong cót thóc nhà mình, chỉ vài ngày nữa là nó sẽ vụt vùng dậy, chạy ra, vồ lấy cả gia đình. Hai bà quyết định từ biệt căn nhà xiêu vẹo, nơi chôn rau cắt rốn của những đứa con. Chạy trốn để bảo vệ chúng tôi. Lên ngược. Bởi nghe nói cánh đàn ông trong làng, trong đó có cha tôi và cha chị, đang làm phu phen ở vùng mỏ nào đó xa tít tắp trên mạn ngược.
Ra đến tỉnh, đã có cơ man nào là người cùng cảnh, họ đi rệu rã, vô định, vô hồn, rồi nằm xuống vĩnh viễn, thường là ở dãy lều quán bỏ hoang... Mỏ kẽm Chợ Ðiền còn xa lắm, nơi rừng xanh nước độc không phải dành cho đàn bà, trẻ con, nhưng để chạy xa cái chết, giữ được giọt máu của mình thì dù có phải lên trời hay xuống biển, các bà mẹ cũng không nản lòng.
Ði được một chặng, ngoái cổ lại vẫn thấy thần chết gấp gáp đuổi theo, rồi mẹ chị rã rời chân tay. Bà ngồi xuống ngã ba đường, đau đáu nhìn mẹ tôi, thều thào trăng trối:
- Tôi ở lại ngã ba này đợi bố cháu ở kiếp sau. Tôi xin chị hãy cứu cái Soan, nó ngoan ngoãn, nết na, xinh đẹp, nó có thể làm con ăn, con ở cho nhà chị, khi nó thành người, chị gây dựng cho nó. Nếu nó được là con dâu của chị... ôi tôi chết cũng không có gì luyến tiếc... Chị gặp bố cháu hãy nói lại lời nói của tôi.
Chúng tôi khóc cạn nước mắt để chia ly người đoản mệnh, rồi những người làm từ thiện chất xác bà lên xe, đưa đi an nghỉ ở một nơi nào đó. Trong ruột tượng của bà còn lại mấy đồng xu kẽm xám xịt bà không dám tiêu, vì coi nó là liều thuốc hồi sinh của con gái mình. Gánh nặng chất lên vai mẹ tôi trăm cân hay nghìn cân chỉ mình mẹ tôi biết. Còn tôi với đôi bàn chân đi bộ đã sưng phồng, đau rát cứ khóc mếu liêu xiêu dọc đường. Chị Soan thương tôi, ghé lưng xin cõng, tôi ứ thèm, mẹ phải mắng tôi mới chịu. Tôi giẫy giụa trên lưng chị, chị nhăn nhó bảo tôi: "Cậu đừng giẫy nữa, ngã cả bây giờ". Ðến tối, chị nói chuyện với mẹ: "Cậu giẫy quá, con đau cả ngực". Hối hận về sự nhõng nhẽo của mình, tôi nhìn vào ngực chị, đúng là đã sưng lùm lùm như hai cái chén. Từ đấy tôi quấn giẻ vào chân, đi bộ dễ dàng.
Một buổi chiều, mây đen che kín mặt trời, có một đám mây chụp xuống mẹ tôi nặng gấp vạn lần gánh nặng mẹ tôi đang gánh trên vai. Mẹ khuỵu xuống đường phều phào nói với chúng tôi:
- Mẹ không đi nổi nữa đâu, đứt gánh rồi !
Chúng tôi ôm choàng lấy mẹ, chị Soan lấy cái nón mê quạt liên hồi. Mẹ đưa cho chị một đồng bạc "gánh dừa" (một đồng Ðông Dương) và một mẩu giấy ghi địa chỉ của cha tôi, môi mấp máy:
- Hai đứa nghe mẹ nói đây, mẹ đồng ý cho hai đứa thành vợ thành chồng, sau này sinh cho mẹ thằng cháu đích tôn. Ðừng trách mẹ nghe không!
Chúng tôi khóc rống lên, thấy như mình đang mất từng khúc ruột. Ðầu óc lên mười của tôi còn ngu ngơ ngốc ngếch, không ai dạy cho mà sao lại có tiếng khóc thảm thiết đến xé lòng. Chị Soan hơn tôi bốn tuổi, đã vượt qua ngưỡng "nữ thập tam", chị sâu sắc hơn tôi, chị đau đớn gấp đôi tôi. Mẹ tôi lại nói trong tiếng đờm:
- Các con có bằng lòng như lời mẹ không - mẹ nhìn chị Soan, chờ đợi.
- Có ạ!
Chị nói thật lòng, không một phút đắn đo. Mẹ lại đăm đắm nhìn tôi. Tôi bối rối chẳng biết nói gì. Mẹ chờ. Mẹ biết con trai mẹ còn non nớt, hơi sữa vẫn thoang thoảng trên đầu. Rồi mẹ ngẹo cổ sang một bên. Mẹ vĩnh biệt tôi, mắt vẫn chờ câu "có ạ" của tôi, chưa chớp.
Chúng tôi thành những đứa trẻ bơ vơ giữa đất trời hoang vắng. Chị Soan thay mẹ gồng gánh, chăm sóc tôi. Chị giữ gìn tôi như báu vật, tối đến, dù là đầu hè, góc chợ, chị ôm chặt tôi vào lòng thân thương, bé bỏng, chị sợ thần chết cướp tôi trong tay chị.Có địa chỉ, có sự phù hộ của mẹ, chị tháo vát đưa tôi đến đúng địa chỉ của cha. Lúc này mỏ kẽm Chợ Ðiền như một con rắn khổng lồ không đầu, bọn chủ mỏ đã tháo chạy về xuôi, cu-ly thất nghiệp ngơ ngác. Từng đoàn người thất thểu kéo nhau về quê, nơi họ đã thề không giàu có không về. Tốp người khác lại đi cướp bóc, đập phá để giành giật sự sống. Cha tôi vào "hội kín" ngày đêm đi rèn mã tấu, giáo mác. Ở mỏ kẽm, sắt thép có thể rèn vũ khí cho cả binh đoàn. Nghe chúng tôi kể chuyện mẹ chết đói dọc đường, cha tôi đau đớn than khóc. Rồi thắp nén hương ngày thứ một trăm, cũng là ngày cha tôi bị giặc bắt và tra tấn đến chết ngay tại sân nhà Ký Chí.
Chúng tôi lại trở thành hai đứa trẻ côi cút không nhà không cửa, không họ hàng, không nơi nương tựa, chúng tôi đang đợi giờ đoàn tụ với cha mẹ và hai triệu người oan khốc.
Nhưng ngày vĩnh biệt cha cũng là ngày các đồng chí của cha đưa chúng tôi đi nuôi dưỡng. Thế rồi mỗi đứa một nơi, nỗi đau vẫn quặn lên từng lớp, từng lớp. Ngày chia tay tôi, chị ôm chặt lấy tôi, nước mắt bịn rịn, chị hôn lên má tôi: "Chị không quên cậu, khi cậu lớn, chị nhất định sẽ tìm! Chúng ta đã là máu thịt, đừng quên cậu nhá!".
Rồi thì tôi chạm mấy lần ngọn cỏ, chơi mấy lần đáo với khăng là quên khuấy chị Soan đã là vợ của mình. Cuộc sống cuốn tôi đi, rồi vợ, rồi con, rồi cháu. Một ngày, tôi đang ngồi hút thuốc lào vặt ở vỉa hè thì có người đàn bà tìm đến nhà:
- Bà tìm ai ạ?
- Ông cho tôi vào nhà được không?
- Dạ, mời bà.
Tôi ngồi trước mặt người đàn bà xa lạ, gương mặt phúc hậu, ăn mặc giản dị. Những gói quà bà run run đặt lên bàn rất trịnh trọng. Tôi ngỡ bà đã nhầm địa chỉ.
- Thưa bà, tôi e rằng bà đang nhầm đấy ạ.
Bà nhìn tôi với ánh mắt xót xa. Người ta có thể quên mọi nỗi khổ, mất mát, quên cả lúc vinh, lúc nhục, nhưng quên một mối tình thì không.
- Thế là ông quên tôi thật.
- Thưa bà, tôi cha mẹ, anh em, họ mạc chẳng còn ai, đồng chí đồng đội cũng ít, quả tình là như vậy ạ!
- Chả nhẽ ông quên cả người vợ của mình ư?
Bà hỏi tôi quá đột ngột, chắc bà chưa bao giờ chuẩn bị cho câu hỏi này nên tôi nhìn gương mặt bà tái xanh, cơ má, cơ mặt đang giật nhăn nhúm như có cơn đau dày vò.
- Thưa bà, bà vợ tôi đang hái chè, bà ấy chưa bao giờ ra khỏi xã, có đi đâu lâu đâu mà nhớ ạ?
Bà già sắp bật khóc nhưng cố kìm nén những giằng xé tâm can. Tôi bối rối, mặt mày ngây đuỗn.
- Không sao, đúng là tôi đã lầm. Tôi biếu ông chút quà, đừng ngại, còn đây là địa chỉ của tôi. Bà đưa cho tôi chiếc phong bì đã dán.
Bà ra về, hai vai chất đầy thất vọng. Tôi bóc chiếc phong bì bà gọi là địa chỉ, nghĩ bụng bà dở hơi trời cho này có khi còn nhét cả tiền vào đấy cũng nên. Xem lướt qua, mắt tôi tối xầm, chao đảo, mồ hôi vã ra như tắm, trong ruột dội lên từng đợt rét, hàm răng gõ vào nhau cầm cập. Cơn tụt huyết áp đến bất ngờ, tôi nằm vật xuống giường, mồ hôi in xuống chiếu như những con dấu còng queo. Tôi đã thấy đồng bạc "gánh dừa" và địa chỉ của cha tôi do mẹ tôi viết lại ngày trước. Lập tức bộ óc còn đang ngu ngơ đưa tôi ngược về quá nửa thế kỷ, đưa tôi gặp lại cha mẹ và chị Soan, đưa tôi gặp lại vô vàn người chết đói, đưa tôi gặp lại bao nỗi lận đận thăng trầm.
Sáng hôm sau theo địa chỉ tôi tìm đến nhà chị, đường quá gần mà bấy lâu nay lòng tôi như cách biệt. Gặp chị, tôi không chào hỏi mà cứ cúi rạp xuống lạy chị liên hồi.
- Em lạy chị, chị tha thứ cho đứa em bất nghĩa bất trung này, đầu óc em bằng đất.
Chị đỡ tôi dậy, ôm chầm lấy tôi, thân thương như ngày còn bé bỏng. Chị trút xuống vai tôi những giọt nước mắt đậm vị cay, vị đắng, làm tôi bỏng rát da thịt. Hai mái đầu bạc gục vào nhau rưng rưng theo nhịp nghẹn ngào. Tôi cứ tưởng mình đã ráo hoảnh nước mắt trong đau khổ và mưu sinh nhưng trong vòng tay bao dung của chị, nước mắt tôi từ tâm khảm cứ trào ra, trào ra tạo thành một khoảng trống cho niềm vui ùa vào.
- Em đã từng coi chị như mẹ, như chị của em, dù trong đau khổ cơ cực, lòng chị vẫn nhóm ngọn lửa hạnh phúc. Còn em đến nay đã là một lão già, xin chị vạn lần tha thứ.
Thì ra sau ngày chị em mỗi người mỗi nẻo, chị được một gia đình nhận làm con nuôi vì nhà hiếm con, ông bố mải mê hoạt động cách mạng, mọi việc gia đình giao cho hai mẹ con. Ruộng nương, trâu bò, lợn gà... Chăm chỉ tháo vát, nết na, xinh đẹp, chị như lộc trời cho ông bà. Nhiều chàng trai trẻ trong thôn mê sắc đẹp và sự dịu dàng của chị, đã vụng về trao ánh mắt, chị biết đấy là ong bướm chập chờn tìm hoa. Họ không biết chị đã có nơi có chốn, hoặc vẫn cứ lặng lẽ, hoặc cứ là sôi nổi đến với chị. Chị không lạnh nhạt với ai mà chỉ khéo léo đeo dao quắm vào lưng, lên rừng chặt vác củi.
Mặt trận đang diễn ra ác liệt ở một địa bàn nào đấy, chị nghe rõ tiếng đạn tiếng bom. Chị nghe như có cả tiếng súng của tôi. Và hình ảnh tôi cứ mãi trong tâm tưởng chị. Hình ảnh tôi đã choán hết thời con gái, thời thanh xuân... Qua mỗi trận quân ta chiến thắng, chị đọc báo soi từng gương mặt bộ đội trên ảnh, tìm tôi đứng ở đâu, lập chiến công oanh liệt như thế nào, giết được bao nhiêu tên giặc. Ngày chuẩn bị tiếp quản thủ đô, chị bỏ cả ngày xuống Thái Nguyên nhìn mặt từng anh bộ đội, chị sưu tầm hàng trăm bức ảnh để hằng ngày tìm gương mặt của tôi, chị không bao giờ nghĩ tôi có thể hy sinh để chị phải góa bụa vì gia đình chúng tôi bị ông trời đã đầy đọa quá nhiều. Rồi bố mẹ nuôi về với tổ tiên, chị lại côi cút lần thứ ba. Nỗi đau mất người thân, không chồng, không con, giằng xé gan ruột chị, có lúc chị thầm ghen với nàng Tô Thị, nàng còn có đứa trẻ để bồng.
Nắng đã ngả, dẫu chút nắng vàng hoe cũng là năng lượng sản sinh ra hạnh phúc, gác lại mọi nỗi bất hạnh, chị rượt đuổi ánh nắng giành giật hạnh phúc cho mình. Chị tìm vài đứa trẻ lang thang, không cửa không nhà về chăm sóc. Những cuộc đời đau khổ đến với nhau, dựa vào nhau thành tình thương đơm hoa kết trái, làm ra thứ của cải vô giá là hạnh phúc là tình yêu. Chị trở thành người mẹ đông con, người bà đông cháu. Thế nhưng, trong sâu thẳm của ký ức, lại cứ lóe lên hình ảnh của tôi mà chị đã kỳ vọng, rồi phóng to thành anh hùng, chị vẫn khát khao gặp người anh hùng ấy một lần. Rồi hình như vong linh cha mẹ chúng tôi đã thương chị, đã sắp đặt, run rủi để chị gặp một người có biết tôi. Chị đã biết nơi ở của tôi. Và một ngày, mặt trời vừa hửng, chị đứng trước sân nhà tôi để rồi ngỡ ngàng. Người đúng, cảnh không. Tôi không nhận ra chị, còn chị như đang thầm mong có sự lún thụt của trái đất, chị đưa chị xuống thật sâu rồi khép lại, bởi vì chị đã nhìn thấy nghịch cảnh.
Chị em chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều. Qua những người sống cùng thời với chị ở bản Tuân, bản Eng kể lại, tôi hình dung cuộc đời của chị như một cuốn phim bi ai, cảm động, càng tở ra càng vò xé lòng tôi. Hai chữ trung trinh cùng với cõi tâm linh đã kết chị thành hòn vọng phu bằng xương bằng thịt. Khi tóc bạc, da mồi, chị vẫn vò võ đợi tôi, tìm tôi, khi gặp được tôi, trớ trêu thay... Bây giờ trong tôi, chị là bậc vĩ nhân, là tấm gương hy sinh. Còn tôi trái tim ngày đêm buốt nhói, một món nợ dai dẳng, một món nợ đời.