Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả phân tích 76 cuốn sách giáo khoa của sáu môn học từ lớp một đến lớp 12, trong tổng số hơn 8.000 nhân vật xuất hiện trong nội dung văn bản cho thấy: Nam giới chiếm 69%, nữ chiếm 24%, còn lại 7% là trung tính về giới.
Sự chênh lệch giữa nhân vật nam và nữ cũng có sự khác biệt theo các cấp học, càng lên cấp học cao sự chênh lệch càng lớn, nhất là ở cấp trung học phổ thông. Nghề nghiệp của nhân vật nam giới trong sách giáo khoa cũng đa dạng hơn nghề nghiệp của nữ giới. Hình ảnh, nội dung mang định kiến giới trong sách giáo khoa, chương trình giáo dục có thể làm khắc sâu định kiến giới trong nhận thức trẻ em, làm chậm tiến trình đạt được bình đẳng giới thực chất. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục tăng cường vai trò của đội ngũ giáo viên trong việc chuyển tải kiến thức bình đẳng giới.
Ông Trần Kim Tự, Phó Cục trưởng Nhà giáo và Quản lý cán bộ giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết: “Những hình ảnh, nội dung có sự phân biệt về giới. Thí dụ, liên quan đến nghề nghiệp nội trợ, nông nghiệp gắn với phụ nữ. Còn kỹ sư, bác sĩ lại gắn với nam giới. Những góc độ này tạo nên sự nhìn nhận về giới. Nếu chỉ thoáng qua một cuốn sách giáo khoa sẽ không ai để ý chuyện này. Nhưng tổng kết lại cả một chương trình thì đúng là có vấn đề về giới. Điều đó cho thấy chúng ta phải hết sức cẩn trọng”.
Ngoài ra, theo thống kê của Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, có đến 93% trẻ em bị xâm hại tình dục bởi người thân, người quen. Tuy nhiên, việc giáo dục giới tính cho trẻ em còn gặp nhiều khó khăn khi chính những bậc làm cha mẹ, thầy cô giáo, xã hội còn khá “e dè” trước vấn đề nhạy cảm này. Trong khi đó, với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, tình trạng học sinh dậy thì sớm từ 12-14 tuổi đã xuất hiện không ít nhưng cách tiếp cận kiến thức về giới tính có vẻ “quá cũ”, quá mỏng so với con số 300.000 ca phá thai tuổi vị thành niên mỗi năm khiến nhiều người giật mình.
Phát biểu tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam đề xuất một số nội dung hoạt động mà Hội có khả năng đầu mối tổ chức và phối hợp triển khai nhằm thúc đẩy quá trình lồng ghép giới trong xây dựng chương trình phổ thông và viết sách giáo khoa phổ thông như: Tham gia các Hội đồng tư vấn, tham vấn về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng, thẩm định chương trình và sách giáo khoa phổ thông; phối hợp xây dựng và vận hành mô hình tư vấn học đường tại trường học, góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực học đường trong học sinh; biên soạn và cung cấp tài liệu tăng cường kết nối giữa cha mẹ và con cái, gia đình và nhà trường, trong đó có nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới.
Có thể thấy, bình đẳng giới vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt được các mục tiêu phát triển, đồng thời cũng là một yếu tố nhằm nâng cao khả năng tăng trưởng của mỗi quốc gia. Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã và sẽ ngày càng coi việc nâng cao bình đẳng giới như một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nhằm cho phép tất cả mọi người thoát khỏi cảnh đói nghèo và cải thiện các điều kiện sống.