Cần thường xuyên học tập và chấp hành pháp luật

 
Nước Việt Nam đang thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi khách quan là phải xây dựng hệ thống pháp luật "mở" để phù hợp xu thế phát triển chung của thời đại, cũng như các thông lệ quốc tế. Ðiều tất yếu là phải sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật nước nhà, do đó trong những năm gần đây số lượng các bộ luật, luật được Quốc hội nước ta thông qua và ban hành tương đối nhiều. Chỉ riêng kỳ họp lần thứ 7, Quốc hội khóa XI, thông qua 11 dự án luật, bộ luật và một nghị quyết (theo chương trình xây dựng luật của Quốc hội).

Ðó là chưa kể những văn bản pháp quy dưới luật, cứ mỗi luật thì có hàng chục văn bản như pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư... để cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện. Như vậy chúng ta có thể thấy được một khối lượng lớn văn bản pháp luật điều chỉnh trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đất đai, tài nguyên môi trường... có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đời sống của nhân dân.

Trước tình hình thực tế như vậy cho nên Ðảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và học tập pháp luật. Ban Bí thư TƯ Ðảng đã ban hành Chỉ thị số 32 CT/TƯ ngày 9-12-2003 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Nội dung chỉ thị đề cập toàn diện về sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác này, xác định rõ: "phổ biến giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Ðảng. "Hơn nữa trong chỉ thị còn đề cập: "Mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định việc tìm hiểu học tập pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên; thông qua việc gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên mà thuyết phục giáo dục quần chúng, thành viên trong gia đình ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật."

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 212/2004/QÐ-TTg ngày 16-12-2004 về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2010. Như vậy sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là rất sâu sát và chú trọng đúng mức. Vấn đề còn lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và làm sao công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thực tế đi vào cuộc sống của cán bộ và nhân dân. Ðòi hỏi các cấp ủy, chính quyền cơ sở, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức của Nhà nước và mọi công dân đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác tuyên truyền, giáo dục và học tập để hiểu biết, nâng cao nhận thức và chấp hành đúng pháp luật. Muốn thực hiện được điều đó thì phải có chương trình, kế hoạch thật cụ thể. Tức là phải xác định rõ nội dung, phương pháp, thời gian, đối tượng... sao cho phù hợp để từ đó có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo thì mới có thể đem lại hiệu quả thiết thực.

Ðối tượng cần tuyên truyền, giáo dục pháp luật là vấn đề cần được làm rõ trong mọi phương thức tuyên truyền thì mới có thể đem lại kết quả. Có nhiều cách phân loại đối tượng,  như phân chia theo độ tuổi, giới tính, thành phần, dân tộc, tôn giáo, vùng (vùng thành thị, vùng nông thôn, vùng đồng bằng, vùng miền núi,...), cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân... Trên cơ sở xác định đối tượng để có phương thức tác động thích hợp nhằm truyền đạt những nội dung, quy định để họ dễ dàng tiếp thu về pháp luật.

Tuy nhiên có cách phân loại chung nhất là chia theo diện: đó là diện rộng rãi và diện chuyên sâu. Diện rộng có nghĩa là tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, mọi người ai cũng phải hiểu những nội dung, quy định cơ bản nhất của pháp luật, có liên quan trực tiếp trong cuộc sống hằng ngày, buộc họ phải biết để xử sự đúng pháp luật. Thí dụ: Luật giao thông đường bộ, một số quy định cụ thể như: đi bên phải đường; đèn đỏ thì dừng lại; đèn xanh được đi; phải xin đường khi rẽ phải hoặc rẽ trái; chấp hành các biển báo giao thông... và cấm các hành vi phóng nhanh, giành đường, vượt ẩu, đánh võng, lạng lách... Hoặc như Luật Bảo vệ môi trường, quy định về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường của các cơ quan, tổ chức, công dân, đồng thời quy định những việc làm bị cấm như làm ô nhiễm; tác động xấu đến môi trường...

Như vậy, đối với diện rộng là phải tuyên truyền cho mọi công dân hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ để họ ứng xử trong quan hệ xã hội. Ðây là công việc chung của toàn xã hội, đòi hỏi mọi công dân phải hiểu biết những nội dung cơ bản của pháp luật để xử sự trong cuộc sống cho đúng pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau. Theo nguyên tắc: "công dân được quyền làm những việc mà pháp luật không cấm".

Ðối với diện chuyên sâu, tức là những quy phạm pháp luật cụ thể chuyên sâu theo từng lĩnh vực chuyên ngành, không phải bắt buộc ai cũng phải hiểu mà chỉ có những người thừa hành công vụ hoặc có liên quan cần phải hiểu biết để thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của mình. Thí dụ như Luật Thương mại thì chỉ các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại, các công chức- viên chức được giao nhiệm vụ công vụ về thương mại; những người kinh doanh thương mại, có quyền và nghĩa vụ liên quan thì họ nhất thiết cần phải tìm hiểu đầy đủ để thực hiện theo đúng pháp luật thương mại, còn những công dân không liên quan kinh doanh thương mại thì nhu cầu hiểu biết về pháp luật thương mại là không nhất thiết bắt buộc. Hoặc như Pháp lệnh Cán bộ, công chức thì bắt buộc mọi cán bộ, công chức phải nghiên cứu, học tập để nắm vững các quy định mà thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Như vậy, các quy định chuyên sâu theo từng lĩnh vực cụ thể thì yêu cầu các đối tượng có liên quan trực tiếp phải nắm vững để thực thi nhiệm vụ theo đúng pháp luật quy định, theo nguyên tắc "các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật".

NGUYỄN VĂN BẢY
(Sở Tư pháp Kon Tum)

Có thể bạn quan tâm