Hỏi: Một người có hành vi trộm cắp nhiều lần nhưng giá trị tài sản của mỗi lần đó là không lớn, chỉ từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trả lời: Tại khoản 1 Điều 38 BLHS quy định: "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm". Đồng thời tại Điều 5 Mục II Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của TANDTC -VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của BLHS 1999 đã hướng dẫn: "Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trọng...) đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính" và chưa hết thời hạn xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm". Như vậy, trường hợp một người có hành vi trộm cắp nhiều lần và có tổng giá trị tài sản bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (500.000 đồng) thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản.
Tuổi kết hôn
Hỏi: Nam đã hơn 19 tuổi nhưng chưa đủ 20 tuổi, nữ hơn 17 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, thì có được kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay không?
Trả lời: Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định nam nữ kết hôn phải tuân theo điều kiện về độ tuổi như sau: "Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên". Điều 3 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3-10-2001 của Chính phủ cũng quy định: "Nam đang ở độ tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình". Điểm a khoản 1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, thì không bắt buộc nam phải đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn.
Vì thế, trong trường hợp nam đã hơn 19 tuổi, nữ đã hơn 17 tuổi (kể cả chỉ hơn một giờ, một ngày), mà không vi phạm các điều kiện kết hôn khác, thì được kết hôn theo quy định của pháp luật hiện nay.