Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Ðại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970, qua một lớp bồi dưỡng viết văn trẻ, anh xung phong vào miền nam công tác làm báo từ chiến trường. Sau giải phóng, Lê Quang Trang về làm Báo Văn nghệ, đến năm 1981 thì chuyển sang Báo Nhân Dân. Anh là một cây bút phê bình có lửa nhưng đầy ân tình trong việc khẳng định những giá trị đích thực của các sáng tác mới trong văn học cũng như bảo vệ đường lối văn nghệ của Ðảng. Anh từng là Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI, khóa VII. Anh là nhà báo được nhiều người biết đến nhưng thơ mới thật sự là tâm huyết, là điều khiến tên tuổi anh sống trong lòng bạn đọc.
Tôi và anh có nhiều chuyến đi cùng nhau, có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Có lần, chúng tôi đáp xuống Nha Trang thì trời đã tối. Trong bữa cơm bạn bè, có ai nhắc đến thơ. Biết anh Lê Quang Trang là nhà thơ, mọi người "ô" lên, đầy vẻ ngưỡng mộ và yêu cầu anh đọc thơ. Dưới bầu trời đầy sao và gió, giữa những mắt người lấp lánh ánh sao, anh Trang đã đọc những bài thơ tâm huyết của mình, trong đó có bài thơ Tro tàn quá khứ anh vừa mới viết:
Lả tả bay trên thành phố đông người
Tro quá khứ tình yêu em đã đốt
Cái quá khứ không đem mà ăn được
Nhưng con người lại không thể nguôi quên.
Dẫu bây giờ không được nắm tay em
Mắt trong mắt như cái thời lửa cháy
Nhưng hãy lọc trong tàn tro đen ấy
Có những điều đốt mãi chẳng thành tro.
Một người mới gặp lần đầu, anh X, nguyên bộ đội đặc công Khánh Hòa, đang phụ trách ngành du lịch, không rời chúng tôi nữa. Vì yêu thơ, vì tình đồng đội, vì yêu những người làm nên vẻ đẹp trường tồn, anh mời chúng tôi về chỗ anh, mấy ngày liền sốt sắng dẫn chúng tôi đi thăm những cảnh đẹp của quê hương anh.
Có những tài năng thơ vụt sáng qua bầu trời văn học trong khoảnh khắc rồi vụt tắt. Có những người suốt đời bền bỉ với thơ, không thể một ngày sống mà không làm thơ, không nghĩ về thơ. Lê Quang Trang thuộc về những người thứ hai ấy. Và có lẽ cả cuộc đời thơ của anh, anh luôn mang theo và trung thành với một cảm hứng chủ đạo: cảm hứng nhân dân. Và thêm nữa ở anh, có sự thống nhất giữa sống và viết. Chất thơ cất lên từ đời sống, đời sống luôn gắn chặt với sự nghiệp và hoài bão của nhân dân. Ngay cả những bài thơ tình tha thiết nhất của anh cũng trong cái trường của cảm hứng nhân dân.
Tôi gặp một câu thơ thật hay của anh vào năm 1971: Trời xanh ta sao có hình bóng giặc. Ðó thật là một điều phi lý, bởi với anh, một người như mọi người lúc đó luôn luôn mang trong lòng ý nghĩ là "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".
Giữa chiến trường, viết về anh Tư thương binh, cũng là viết về mình:
Một vết thương xẻ dài cánh tay
Tiếng cười to và bao giờ cũng ngắn
Câu đầu tiên
Anh nói với tôi
"Còn cái be sườn cũng đánh"!
(Nơi tôi đến)
Sau ngày thống nhất đất nước, có những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh cứu nước của nhân dân ta. Họ không biết vì sao đế quốc Mỹ xâm lược đất nước này, không biết cảnh "Xe bọc thép ủi tróc hầm bí mật/Thuốc độc cháy những cánh đồng bát ngát". Lúc ấy họ ở đâu? Còn nhân dân ta hiểu rất rõ vì sao phải chiến đấu, vì ai phải hiến máu, hiểu sâu xa những giá trị nhân văn và cái mặn xót của máu người:
"Ta đã chiếm được Bàu 25
Trên mặt báo, diện tích bằng bao diêm
Và cái địa danh nghe lạ hoắc
Nhưng đằng sau tin kia, ai biết
Một trăm linh hai chiến sĩ không về...".
(Ðằng sau một dòng tin)
Và chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh đó là nhờ ở sự nhận thức và phát huy được giá trị con người.
Vào cuối thế chiến II, một nhà văn nước ngoài đến chúc mừng một nhà văn Pháp: "Hẳn ông rất vui mừng vì hòa bình sắp đến, nước Pháp đã qua khỏi những thử thách khốc liệt nhất. Chúc mừng ông và nước Pháp những ngày hạnh phúc phía trước". Nhà văn Pháp trả lời: "Xin cảm ơn ông, nhưng tôi e rằng những thử thách khốc liệt nhất còn nằm ở phía trước, phía những ngày hòa bình".
Ðúng như vậy. Có ai không nhận thấy trong chiến tranh bao nhiêu gian khổ, hy sinh mà sao lòng người vẫn thanh thản và đầy tin tưởng? Có ai không nhận thấy trong đổi mới ở ta hiện nay cùng với khát vọng, niềm tin, còn có bao nhiêu âu lo, thắc thỏm? Tôi lại nhớ câu thơ của Lê Quang Trang Trời xanh ta sao có hình bóng giặc? Hình bóng giặc ngày xưa có trận tuyến rõ ràng, bóng "giặc" nay ở gần đâu đó, có khi ở ngay trong chính bản thân ta. Và không có cách gì khác, cần phải bằng mọi cách để quét sạch mây mù. Trước hết phải thấy mây mù bóng giặc là những gì. Có khi nó là chuyện nho nhỏ như thích thú với lời khen ngon ngọt:
Mải chạy theo tiếng khen
Quên những lời chỉ trích
Ngày một xa nhân dân
Sao không thành vô ích?
(Vì ai)
Có khi, đó là sự "chết mòn" vì tệ quan liêu, tham nhũng:
Quan liêu, tham nhũng, cửa quyền
Khiến mắt như mù, tai như điếc
Chết mòn mà không biết
Có đau không?
(Chết mòn)
Sau chiến tranh, mọi người sống theo những ngã rẽ khác nhau. Không ít những bài thơ, nhà thơ được xem là "đổi mới" nhưng lại rẽ vào cái cầu kỳ hình thức, tác giả chỉ biết mình, quên đi việc phụng sự nhân dân. Và như thế, cho dù là bông hoa lạ, cũng chóng tàn phai và trở nên vô ích.
Thơ Lê Quang Trang trước sau vẫn dựa trên nền cảm hứng nhân dân. Gió vẫn thổi không ngừng từ biển rộng/Như nhân dân niềm cảm xúc không cùng là lời đề từ cho cả tập thơ này. Thơ anh vì thế mà khỏe, có sự tươi trong của hồn bút. Và như anh từng nói: Thơ nghiêm trang vẫn có chỗ trên đời.