Ðại úy Lê Trung Kiên, sinh năm 1979 tại phường Lam Sơn (TP Hưng Yên). Năm 1999, anh lên đường nhập ngũ. Sau ba năm phấn đấu, rèn luyện, Kiên vào học tại Học viện Cảnh sát nhân dân, chuyên ngành về quản lý phạm nhân.
Tốt nghiệp đại học, được phân công về công tác tại Phân trại quản lý phạm nhân, Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.
Ðại úy Kiên tâm sự: "Quản lý, giáo dục một con người đã khó, quản lý và giáo dục một phạm nhân lại càng khó khăn, vất vả hơn". Ở phân trại do anh quản lý, phần lớn các phạm nhân đều phạm tội ít nghiêm trọng, thời gian thụ án ngắn, tuy vậy để các phạm nhân thích nghi được với cuộc sống nơi trại giam, yên tâm cải tạo, chấp hành tốt nội quy, quy định của trại đã đề ra không phải là việc đơn giản. Mỗi người một tính cách với những cách thể hiện, những cung bậc cảm xúc khác nhau. Cứ khi nào có phạm nhân mới vào trại, Ðại úy Kiên lại dành thời gian nghiên cứu hồ sơ của họ để hiểu rõ hơn về nhân thân, gia cảnh... rồi tiếp xúc, chuyện trò để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và tìm hiểu tư tưởng, tính cách họ. Nhiều đối tượng khi vào trại do quá hoảng loạn nên đã khóc lóc, đập phá, chống đối, không chịu lao động. Lê Trung Kiên phải gặp riêng từng người để động viên, cảm hóa và khích lệ họ cải tạo tốt để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng. Ðiển hình là trường hợp của phạm nhân Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1991, trú tại xã Thanh Long (Yên Mỹ, Hưng Yên), vào trại thi hành án về tội cướp tài sản. Quang sinh trưởng trong một gia đình khá giả, lại là con một cho nên được bố mẹ hết sức cưng chiều. Những ngày đầu vào trại, Quang tỏ ra bướng bỉnh, thường viện cớ thoái thác công việc. Ðại úy Kiên dành thời gian tìm hiểu thêm về Quang rồi lựa lời chỉ bảo, động viên Quang chịu khó cải tạo. "Mưa dầm thấm lâu", trước sự ân cần quan tâm của cán bộ Kiên, Quang dần thay đổi, nghiêm túc chấp hành nội quy, quy chế của trại giam, cần cù lao động, sẵn sàng đảm nhận những phần việc nặng nhọc. Với sự cố gắng rèn luyện, Quang đã có tên trong danh sách những phạm nhân được đặc xá, trở về trong vòng tay yêu thương của gia đình.
14 năm gắn bó với công việc quản giáo, Ðại úy Lê Trung Kiên không ngừng phấn đấu, giúp những phạm nhân lầm đường, lạc lối hoàn lương, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình. Do đạt nhiều thành tích trong công tác, học tập, anh đã được Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên nhiều lần biểu dương, khen thưởng.
PHẠM HÀ và PHƯƠNG HUYỀN (Hưng Yên)
Ðưa giống cây quý về bản Lồng
Ông Mùa Chớ Vàng, dân tộc Mông ở bản Lồng, xã Tỏa Tình (Tuần Giáo, Ðiện Biên) kể: Gia đình ông trồng 2 ha sa nhân, sơn tra cùng với chăm sóc bảo vệ rừng cũng thu được 100 triệu đồng/năm. Người có công đầu tiên giúp ông và nhân dân trong bản chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là đồng chí Mùa Nhè Chống, Bí thư Chi bộ bản Lồng.
Bí thư Chống kể: Mấy năm trước gia đình ông cũng là hộ nghèo. Nghĩ mình là đảng viên, là Bí thư Chi bộ thì phải tìm hướng thoát nghèo trước, khi đó nói đồng bào mới tin. Nghe cán bộ ở huyện, ở tỉnh vận động, Bí thư Mùa Nhè Chống lặn lội về Sơn La mua giống cây sa nhân, học hỏi kỹ thuật và trồng thử 2 ha sa nhân dưới tán rừng mà gia đình nhận chăm sóc, bảo vệ, đã thu được 150 triệu đồng/năm từ bán quả sa nhân. Tìm hiểu một số loại cây trồng khác như mận tam hoa, cây sơn tra cũng phù hợp với chất đất trong vùng và có hiệu quả, Bí thư Mùa Nhè Chống vận động người dân trong bản cùng trồng. Ðược cán bộ tận tình hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại giống cây mới, người dân trong bản ai cũng tin tưởng. Ðến nay, bản Lồng đã có hơn 10 hộ gia đình, như hộ ông Mùa Sáng Tòng, Mùa Khua Dính, Mùa Chớ Vàng... trồng 12 ha sa nhân, trở thành cây hàng hóa, có giá trị kinh tế cao. Nhiều hộ trồng cả đào Pháp, táo mèo, cà-phê, kết hợp nuôi trâu, bò, lợn đã thoát khỏi đói, nghèo. Nhờ trồng cây sa nhân, sơn tra, trồng mận tam hoa và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhiều người dân ở bản Lồng, xã Tỏa Tình (Tuần Giáo, Ðiện Biên) có cuộc sống khá giả hơn. Không chỉ giúp người dân phát triển kinh tế, Bí thư Chi bộ bản Lồng còn tích cực tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc Mông ở bản Lồng chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ðồng bào dân tộc Mông ở bản Lồng trìu mến gọi Mùa Nhè Chống là Bí thư "miệng nói, tay làm".