Tăng trưởng 2 con số:

Cải thiện chất lượng nền kinh tế là ưu tiên hàng đầu

Kinh tế thế giới ngày càng bất định và tình hình chiến sự Trung Đông căng thẳng, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc tạo đà tăng tốc ngay từ đầu chu kỳ phát triển mới.

Giáo sư Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế quốc dân.
Giáo sư Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế quốc dân.

Phóng viên Báo Nhân Dân phỏng vấn Giáo sư Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế quốc dân về vấn đề này.

Vai trò trung tâm của cải cách thể chế

Phóng viên: Đại học Kinh tế quốc dân vừa công bố Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 và đánh giá triển vọng kinh tế năm 2026, đâu là những điểm nhấn đáng chú ý, thưa ông?

Giáo sư Tô Trung Thành: Năm 2026 được xác định là năm khởi đầu cho giai đoạn phát triển 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng mang tính đột phá, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ định hướng tăng trưởng dựa trên hai động lực chính là khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, với tốc độ tăng trưởng lần lượt khoảng 12% và 11%.

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, còn khu vực dịch vụ được kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ phục hồi tiêu dùng và phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như tài chính, logistics và du lịch. Khu vực nông nghiệp duy trì mức tăng trưởng ổn định, đóng vai trò trụ đỡ bảo đảm an ninh kinh tế và xã hội.

Bên cạnh mục tiêu về quy mô, chiến lược phát triển năm 2026 đặc biệt nhấn mạnh nâng cao chất lượng tăng trưởng. Các chỉ tiêu về kinh tế số (đóng góp khoảng 14,5% GDP) và năng suất lao động (tăng khoảng 8,5%) được xác định là những yếu tố then chốt để bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng trong trung và dài hạn. Điều này cho thấy định hướng chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và lao động sang dựa vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Một điểm nổi bật của triển vọng năm 2026 là vai trò trung tâm của cải cách thể chế. Hệ thống các nghị quyết chiến lược ban hành trong năm 2025 tạo nền tảng cho một chương trình cải cách toàn diện, hoàn thiện thể chế kinh tế và định hình mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Nổi bật trong số đó là Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 66-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW. Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, các cải cách này có thể tạo ra bước đột phá về năng suất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và mở rộng dư địa tăng trưởng dài hạn.

Phóng viên: Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 cũng chịu tác động mạnh từ bối cảnh kinh tế quốc tế, đặc biệt là tình hình chiến sự Trung Đông, thưa ông?.

Giáo sư Tô Trung Thành: Trong ngắn hạn, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đối mặt với nhiều ràng buộc chính sách. Cụ thể, dư địa chính sách tiền tệ bị thu hẹp do áp lực lạm phát, biến động tỷ giá và những rủi ro nội tại của hệ thống tài chính-ngân hàng. Vì vậy, chính sách tiền tệ cần ưu tiên ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, đồng thời chỉ hỗ trợ có chọn lọc cho các lĩnh vực ưu tiên.

Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa được kỳ vọng đóng vai trò chủ đạo trong thúc đẩy tăng trưởng năm 2026. Định hướng chính là mở rộng có mục tiêu, tập trung vào tăng chi đầu tư phát triển, đặc biệt cho hạ tầng chiến lược như giao thông, năng lượng, chuyển đổi số và hạ tầng xanh. Đồng thời, các chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp và khu vực tư nhân, nhưng vẫn phải bảo đảm kỷ luật tài khóa và an toàn nợ công. Chính sách tài khóa vì vậy chuyển dần từ vai trò hỗ trợ sang chủ động dẫn dắt tăng trưởng.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 cũng chịu tác động mạnh từ bối cảnh kinh tế quốc tế. Thương mại toàn cầu suy giảm sau hiệu ứng “xuất khẩu đón đầu” năm 2025 có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam, trong khi các biện pháp phòng vệ thương mại gia tăng rủi ro đối với hàng hóa xuất khẩu.

Dòng vốn FDI được kỳ vọng tiếp tục dịch chuyển vào khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là điểm đến quan trọng nhờ ổn định chính trị và chi phí cạnh tranh. Một yếu tố rủi ro quan trọng khác là biến động giá hàng hóa, đặc biệt là giá năng lượng. Giá dầu tăng có thể gây áp lực lớn lên lạm phát, tỷ giá và cán cân vĩ mô, đồng thời hạn chế dư địa điều hành chính sách. Điều này đặt ra yêu cầu phải phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng.

Nâng cao chất lượng tăng trưởng

Phóng viên: Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn vừa qua nhưng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc. Vấn đề này cần được giải quyết như thế nào, thưa ông?

Giáo sư Tô Trung Thành: Trước các định hướng vĩ mô đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP đột phá từ 10%/năm trở lên cho giai đoạn 2026-2030, việc cải thiện chất lượng nền kinh tế cần được đặt làm ưu tiên hàng đầu. Động lực chính phải đến từ việc nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), thúc đẩy tăng trưởng nhờ tiến bộ công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực thay vì chỉ dựa vào thâm dụng vốn.

Theo đó, tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng cần được nâng lên mức hơn 55%, đi kèm với việc cải thiện hệ số sử dụng vốn (ICOR) thông qua đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công. Nền kinh tế cần chuyển dịch mạnh mẽ theo mô hình "3I" bao gồm: Đầu tư (Investment), Tiếp nhận công nghệ (Innovation) và Đổi mới sáng tạo (Invention) để tiến tới tự chủ các công nghệ cốt lõi và gia tăng quy mô kinh tế số.

Về trụ cột công nghệ, cần thực hiện chính sách ngành có chọn lọc và nhảy cóc công nghệ vào các lĩnh vực có chu kỳ ngắn để tận dụng lợi thế đi sau. Thay vì cạnh tranh trong nghiên cứu cơ bản, Việt Nam nên tập trung vào ứng dụng AI thực tế vào các ngành đã có tri thức và dữ liệu đồng thời xây dựng các không gian dữ liệu công nghiệp có chủ quyền để doanh nghiệp trao đổi dữ liệu an toàn.

Phóng viên: Kinh tế số có vai trò rất quan trọng trong mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần giải pháp gì để thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới, thưa ông?

Giáo sư Tô Trung Thành: Định hướng phát triển kinh tế số của Việt Nam đến năm 2030 cần được nhìn nhận không đơn thuần là quá trình số hóa các hoạt động hiện hữu, mà là một chuyển đổi mang tính cấu trúc, trong đó công nghệ số trở thành nhân tố sản xuất cốt lõi, quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 đưa kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, mô hình phát triển cần dựa trên ba trụ cột chính.

Đó là kinh tế số lõi (ICT) phải chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ; kinh tế số ngành cần được số hóa sâu vào chuỗi giá trị, các ngành tài chính-ngân hàng, bán lẻ, logistics và nông nghiệp cần chuyển từ ứng dụng công nghệ bề mặt sang tái cấu trúc mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI; quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số.

Ba trụ cột này chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được đặt trong bối cảnh các đột phá về công nghệ và không gian phát triển, bao gồm phát triển hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, và hình thành các cực tăng trưởng số tại các đô thị lớn, đồng thời lan tỏa tới các địa phương. Qua đó, kinh tế số không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn là công cụ thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm