KINH TẾ NHÀ NƯỚC:
Làm chủ các “cao điểm chiến lược” để dẫn dắt nền kinh tế

Khi khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, yêu cầu đặt ra đối với khu vực kinh tế nhà nước không chỉ là giữ vai trò chủ đạo, mà còn phải thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, mở đường và kiến tạo những không gian phát triển mới.

Mới đây, ngày 6/7, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã ban hành kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp thứ nhất. Theo đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không phải bằng khẩu hiệu, bao cấp, độc quyền, ưu đãi hành chính hay cơ chế xin - cho. Vai trò này phải được thể hiện bằng năng lực dẫn dắt, điều tiết, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và chi phối những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Khu vực kinh tế nhà nước phải tuân thủ kỷ luật thị trường, kỷ luật tài chính, nâng cao chất lượng quản trị và trách nhiệm giải trình.

Tinh thần ấy đang mở ra một giai đoạn phát triển mới cho kinh tế nhà nước: không còn chỉ là "trụ cột" bảo đảm ổn định vĩ mô, mà phải vươn lên làm chủ những "cao điểm chiến lược" của nền kinh tế - từ hạ tầng số, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao.

Loạt bài "Kinh tế nhà nước: Làm chủ các 'cao điểm chiến lược' để dẫn dắt nền kinh tế" sẽ phân tích những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp nhà nước, nhận diện các rào cản cần tháo gỡ, đồng thời phản ánh những nỗ lực chuyển mình để khu vực kinh tế nhà nước thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên mới.

E
KINH TẾ NHÀ NƯỚC nhandan.vn

Không chỉ nợ xấu - “cục máu đông” của hệ thống ngân hàng và nhiều doanh nghiệp nhà nước, mà việc lãng phí hay không huy động được hiệu quả các nguồn lực vốn vì các điểm nghẽn thể chế cũng là phép thử đối với năng lực điều phối, quản trị tài sản quốc gia. So trước đây, cách tiếp cận mới về việc định hình nguồn lực vốn có trong Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra những yêu cầu mới về việc huy động hiệu quả các nguồn lực đặc biệt này, và coi đó như một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

01. Từ nâng cao năng lực quản trị tài sản quốc gia…

Trong giai đoạn phát triển mới, kinh tế nhà nước không thể phát huy vai trò của mình bằng cách mở rộng quy mô một cách đơn thuần. Điều quyết định là nâng cấp năng lực quản trị, từ tư duy, thể chế đến cách thức tổ chức thực hiện.

Nghị quyết số 79-NQ/TW đã đặt yêu cầu chống thất thoát, lãng phí nguồn lực ở vị trí trung tâm. Đây không chỉ là vấn đề kỷ luật tài chính, mà là vấn đề chất lượng quản trị. Lãng phí nguồn lực, dù xảy ra trong đầu tư, quản lý tài sản hay vận hành bộ máy, đều trực tiếp làm suy giảm năng lực phát triển của nền kinh tế. Những điểm mới nêu trên cho thấy một điều rất rõ: thách thức lớn nhất không nằm ở mục tiêu, mà nằm ở năng lực quản trị kinh tế nhà nước.

Nhắc lại Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã được cấp có thẩm quyền ban hành năm 2017 với rất nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Nhưng sau hơn 8 năm triển khai, kết quả đạt được vẫn chỉ là… chưa được như kỳ vọng! Nhiều mục tiêu quan trọng của Nghị quyết vẫn chưa đạt yêu cầu, nổi bật là tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn chậm; xử lý các dự án đầu tư và doanh nghiệp nhà nước yếu kém còn lúng túng. Về việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả…, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung chỉ ra rằng nguyên nhân có cả lý do khách quan và chủ quan, nhưng chủ quan là chính. Trước hết là hệ thống tư duy về khu vực này còn nặng dấu ấn của cơ chế hành chính quan liêu.

Ngay khi Nghị quyết số 79-NQ/TW được ban hành, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung kỳ vọng, hệ thống nhiều giải pháp, nhiệm vụ được đặt ra trong Nghị quyết quan trọng này có ý nghĩa là “cởi trói” cho doanh nghiệp nhà nước. Đơn cử như cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để tăng vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước, thay vì nộp về ngân sách như trước; cho phép hạch toán tách bạch giữa nhiệm vụ chính trị-xã hội và nhiệm vụ kinh doanh thương mại; đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài mà Nhà nước giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp thì Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng… Đặc biệt là tư duy chấp nhận nguyên tắc “lợi ích tổng thể”, cho phép rủi ro trong đầu tư đổi mới, sáng tạo…

Thực tế, suốt gần 40 năm Đổi mới, kinh tế nhà nước luôn là “hàn thử biểu” của nền kinh tế, là lực lượng giữ ổn định vĩ mô trong những thời khắc khó khăn nhất. Nhưng lịch sử phát triển chưa bao giờ đứng yên. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục tái cấu trúc, chỉ làm “lá chắn” thôi là chưa đủ. Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra một yêu cầu cao hơn: kinh tế nhà nước phải trở thành mũi khoan phá vỡ những giới hạn cũ của tăng trưởng. Đó chính là câu chuyện huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn, tài sản nhà nước, cả nguồn lực: tài nguyên, hạ tầng chiến lược và những miền không gian đang mở ra trong tương lai tạo bệ đỡ chiến lược để cả nền kinh tế có thể bứt phá.

Nghị quyết số 79/NQ-TW

Tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là mở rộng thêm quyền lực hành chính, mà là tái thiết động lực vận hành khu vực kinh tế nhà nước, mà trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước và nguồn lực vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Nhưng bệ đỡ ấy chỉ thực sự vững chắc khi được đặt trên một nền tảng tư duy quản trị mới được đề cập rất rõ trong Nghị quyết số 79-NQ/TW. Trọng tâm là định hướng hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, sử dụng vốn nhà nước theo hướng phù hợp cơ chế thị trường; đẩy nhanh sắp xếp, cơ cấu lại và thoái vốn tại những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ chi phối; nâng cao chất lượng người đại diện vốn và cơ chế đánh giá hiệu quả; xử lý dứt điểm các dự án, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài.

Tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là mở rộng thêm quyền lực hành chính, mà là tái thiết động lực vận hành khu vực kinh tế nhà nước, mà trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước và nguồn lực vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Và “nhằm xác định đúng sức mạnh, tiềm lực, hiệu quả và đóng góp thực sự của kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TW đề ra quan điểm mới: Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế”, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cũng từng chỉ rõ điều này tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 79-NQ/TW.

Chính vì vậy, nếu được thực thi nhất quán, những thay đổi ấy có thể giúp khu vực kinh tế nhà nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, thoát khỏi vòng lặp “quy định chồng chéo - khó khăn chồng chất - chủ quản sợ sai – dự án trì trệ” để trở thành lực lượng đủ mạnh và đủ minh bạch trong việc dẫn dắt các lĩnh vực chiến lược của nền kinh tế.

Than Cẩm Phả.

Than Cẩm Phả.

Xuất phát từ thực tiễn đầu tư phát triển hạ tầng và kinh doanh của Tập đoàn Becamex, tại hội nghị trao đổi, đề xuất chính sách, pháp luật thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” do Bộ Tư pháp tổ chức vào cuối tháng 3 vừa qua, thẳng thắn dẫn ra những thí dụ về vướng mắc, rào cản còn hiện hữu, ông Nguyễn Hoàn Vũ - Tổng Giám đốc Tập đoàn Becamex cho rằng, để đưa tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW vào cuộc sống, phát triển kinh tế đất nước, chúng ta cần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực vốn nhà nước, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước là điều không thể thiếu. Để làm được điều này, chúng tôi kiến nghị không nên hạn chế ngành nghề, lĩnh vực đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời mở rộng phạm vi đầu tư mới, đầu tư bổ sung vốn nhà nước, việc đầu tư nguồn lực vốn nhà nước cần được xem xét trên cơ sở hiệu quả theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các mục tiêu kinh tế-xã hội cụ thể đã đạt được.

Mặt khác, theo ông Nguyễn Hoàn Vũ, cần tăng cường tính tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước trong các hoạt động quản lý nguồn lực vốn và quản lý đầu tư; cho phép doanh nghiệp nhà nước được thực hiện các thu hút vốn, mở rộng vốn đầu tư tại doanh nghiệp, tái cơ cấu, thoái vốn, chuyển nhượng vốn đầu tư theo cơ chế tương tự như doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, cho phép giảm tỷ lệ vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hình thức phát hành thêm cổ phần ra công chúng. Về tư duy quản trị, định hướng trong Nghị quyết số 79-NQ/TW, tăng cường sự chuyển dịch từ cơ chế quản lý “tiền kiểm” sang cơ chế đặt mục tiêu và “hậu kiểm”. Tập trung giám sát cả quá trình thực hiện thay vì quản lý từng thủ tục riêng lẻ.

Ảnh: TTXVN

Ảnh: TTXVN

Đặc biệt, cần cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính đối với các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, quy mô lớn. Bởi hiện nay, có một thực tế là các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, quy mô lớn như: các dự án đường sắt đô thị, đường sắt cao tốc bắc-nam… thường có nguồn lực vốn nhà nước đầu tư lớn, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, đều phải xin chủ trương đầu tư từ cấp Quốc hội dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian chuẩn bị và triển khai.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Hoàn Vũ thẳng thắn, với những định hướng mạnh mẽ tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, nên chăng cần đẩy nhanh và mạnh mẽ hơn nữa việc phân cấp phân quyền cho Chính phủ, cho các tỉnh, thành phố về phê duyệt chủ trương đầu tư, thực hiện đầu tư đối công tác chuẩn bị hạ tầng cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, quy mô lớn được triển khai nhanh chóng hơn.

Ý kiến chuyên gia

Thực tế hiện nay, Tập đoàn Becamex được Thành phố Hồ Chí Minh giao nghiên cứu và đề xuất đầu tư tuyến đường sắt hàng hóa từ phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh (địa bàn tỉnh Bình Dương cũ) xuống phía nam Thành phố Hồ Chí Minh (địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cũ). Tuy nhiên, nếu làm theo phương án tối ưu thì một phần dự án sẽ phải đi qua địa phận tỉnh Đồng Nai - địa phương không phải là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 188-NQ/QH. Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện theo phương án tối ưu thì đương nhiên sẽ tắc, thực hiện theo các phương án khác thì tốn kém, hao phí nguồn lực vốn nhà nước.

Chính vì vậy, để phát huy và tận dụng tối đa nguồn lực, ông Vũ kiến nghị, trên định hướng sẵn có của Nghị quyết số 79-NQ/TW, các cấp có thẩm quyền xem xét cho phép áp dụng các chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 188-NQ/QH đối với các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho nhiều đối tượng hơn như các dự án đường sắt đi qua Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội và một số địa phương lân cận thực hiện đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng.

EVN.(Ảnh: Lê Tiên)

EVN.(Ảnh: Lê Tiên)

02. … Đến bước ngoặt tái cấu trúc tài sản quốc gia

Một chuyển dịch quan trọng mà Nghị quyết số 79-NQ/TW hàm ý là chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo mục tiêu và kết quả. Trong nhiều trường hợp, việc tuân thủ đầy đủ quy trình vẫn chưa đủ để bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực. Ngược lại, không ít nguồn lực được phân bổ đúng quy định nhưng không tạo ra giá trị tương xứng, thậm chí gây lãng phí. Quản trị theo mục tiêu đòi hỏi mỗi quyết định phân bổ nguồn lực phải trả lời được câu hỏi: mục tiêu phát triển cụ thể là gì, kết quả mong đợi là gì và tiêu chí đánh giá hiệu quả ra sao.

Khi mục tiêu được xác định rõ ràng, việc đo lường, giám sát và điều chỉnh mới trở nên khả thi. Đây chính là nền tảng để kinh tế nhà nước vận hành hiệu quả trong điều kiện nguồn lực có hạn nhưng yêu cầu phát triển ngày càng cao. Trước hết, cần làm rõ mục tiêu của từng công cụ và nguồn lực kinh tế nhà nước. Nghị quyết số 79-NQ/TW nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước gắn với hiệu quả, ổn định và dẫn dắt phát triển. Điều đó đòi hỏi mỗi công cụ và nguồn lực kinh tế nhà nước phải được đặt trong một mục tiêu phát triển cụ thể, rõ ràng và có thể đánh giá được theo hướng tạo ra giá trị gia tăng lâu dài cho xã hội, thay vì chỉ dừng lại ở việc bảo toàn hình thức.

Thực tiễn cho thấy, khi mục tiêu sử dụng nguồn lực không rõ ràng, việc đánh giá hiệu quả dễ trở nên hình thức, kéo theo nguy cơ lãng phí và thất thoát. Ngược lại, mục tiêu rõ ràng không chỉ là cơ sở để phân bổ nguồn lực hợp lý, mà còn là nền tảng để tăng cường trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng quản trị theo đúng tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.

"Với những định hướng mới, cách tiếp cận mới tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, các bộ, ngành xem xét, nghiên cứu tìm hướng mở cơ chế tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý trong việc huy động nguồn lực vốn thông qua cơ chế tài sản thế chấp đặc thù, trước mắt là cho các dự án trọng điểm."
Bà Nguyễn Thị Phương, Giám đốc Pháp chế của BIDV

Chính vì vậy, khai thác hiệu quả các nguồn lực gắn với kết quả sẽ tạo động lực cho các chủ thể sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn, đồng thời giúp Nhà nước tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn, đóng góp thiết thực cho ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời tạo không gian an toàn để khuyến khích đổi mới, sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thậm chí, việc xử lý nợ xấu một cách chuyên nghiệp, tạo đà để dẫn dắt thị trường mua bán nợ minh bạch và bền vững cũng là một hướng đột phá.

Chia sẻ quan điểm này, dẫn việc các dự án lớn, trọng điểm quốc gia do các tập đoàn kinh tế nhà nước lớn như: EVN, TKV… đảm trách cần huy động nguồn lực vốn rất lớn, song lại không thể huy nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng nước ngoài thông qua phương thức tài sản thế chấp là tài nguyên đất đai được giao hay cổ phần cổ phiếu mà các đơn vị này nắm giữ, bà Nguyễn Thị Phương, Giám đốc Pháp chế của BIDV cho rằng, với những định hướng mới, cách tiếp cận mới tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, các bộ, ngành xem xét, nghiên cứu tìm hướng mở cơ chế tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý trong việc huy động nguồn lực vốn thông qua cơ chế tài sản thế chấp đặc thù, trước mắt là cho các dự án trọng điểm.

Thứ đến là rà soát thể chế pháp luật để hoàn thiện và nâng cao năng lực cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nhằm mở rộng hoạt động mua bán nợ theo cơ chế thị trường và trao cơ chế pháp lý đủ mạnh cho VAMC có thể tận dụng các cơ chế đặc thù trong xử lý tài sản bảo đảm, đẩy nhanh xử lý nợ xấu và khơi thông nguồn lực đặc biệt này cho nền kinh tế.

Với quan điểm, trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh, xử lý nợ xấu hiệu quả trở thành chìa khóa để khơi thông nguồn lực, ổn định hệ thống tài chính và tạo dư địa phát triển kinh tế đất nước bền vững, ông Đặng Đình Thích, Quyền Tổng Giám đốc VAMC cho rằng, thực tế, nợ xấu thường được hiểu đơn giản là khoản vay không thể thu hồi đúng hạn. Tuy nhiên, khi nợ xấu tích tụ ở quy mô lớn trong hệ thống các tổ chức tín dụng, vấn đề không còn dừng ở phạm vi từng ngân hàng mà trở thành câu chuyện của nền kinh tế và nguồn lực quốc gia.

Khi đó, nợ xấu đồng nghĩa với việc một phần nguồn lực của nhà nước và xã hội bị “chôn” trong các tài sản bảo đảm, dự án dở dang, nhà máy ngưng hoạt động. Nói cách khác, đây không chỉ là dòng tiền bị tắc nghẽn trong hệ thống ngân hàng, mà là sự đình trệ của nguồn lực trên phạm vi toàn nền kinh tế. Ngược lại, nếu xử lý và giải tỏa được nợ xấu, hiệu ứng lan tỏa là rất lớn.

Quan trọng hơn, nguồn lực được tái đưa vào lưu thông và phân bổ hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Nếu xử lý và giải tỏa được nợ xấu, hiệu ứng lan tỏa là rất lớn. Quan trọng hơn, nguồn lực được tái đưa vào lưu thông và phân bổ hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Ông Đặng Đình Thích
Quyền Tổng Giám đốc VAMC

Theo ông Đặng Đình Thích, nợ xấu không chỉ là “cục máu đông” của hệ thống ngân hàng, mà còn là phép thử đối với năng lực điều phối nguồn lực của nền kinh tế. Xử lý nợ xấu hiệu quả không chỉ dựa vào vốn hay công cụ mà còn cần cơ chế vận hành đồng bộ, niềm tin nhà đầu tư và kỷ luật thị trường. Khi ba yếu tố này kết hợp, việc xử lý nợ xấu không chỉ dừng ở xử lý hậu quả, mà còn góp phần định hình lại kỷ luật thị trường, tái phân bổ nguồn lực và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Dẫn lại chi tiết sự ra đời của AMC trong bối cảnh đặc biệt: kinh tế toàn cầu suy thoái, sản xuất, kinh doanh đình trệ, nợ xấu hệ thống ngân hàng tăng cao vượt ngưỡng an toàn theo thông lệ quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam chia sẻ, sự ra đời của VAMC là một quyết định mang tính kỹ thuật nhằm “ổn định hệ thống”…

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, song chính Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hùng cũng thẳng thắn thừa nhận, hoạt động của VAMC đã bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc. Cụ thể, trong bối cảnh nợ xấu chịu áp lực gia tăng, yêu cầu đặt ra không chỉ là “kỹ thuật hạch toán”, mà là xử lý thực chất, tạo nguồn lực mới cho thị trường. Không phải ngẫu nhiên trong Nghị quyết số 79-NQ/TW lại nêu rõ rằng VAMC và Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) là hai trong số những đơn vị cần thực hiện nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.

Theo ông Hùng, nếu coi VAMC là “lá chắn” bảo vệ “sức khỏe” hệ thống ngân hàng, thì DATC là “đòn bẩy” tháo gỡ điểm nghẽn tài chính cho khu vực doanh nghiệp nhà nước. Hai công cụ này vận hành song song, bổ trợ cho tiến trình tái cơ cấu, khai mở nguồn lực cho nền kinh tế. Nghị quyết số 79-NQ/TW mở ra kỳ vọng mới cho xử lý nợ xấu và hình thành thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

"Nghị quyết số 79-NQ/TW mở ra kỳ vọng mới cho xử lý nợ xấu và hình thành thị trường mua bán nợ tại Việt Nam".
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

So trước đây, cách tiếp cận xử lý nợ xấu có trong Nghị quyết số 79-NQ/TW đã có những thay đổi căn bản, nâng vấn đề này từ một nhiệm vụ kỹ thuật của ngành ngân hàng lên thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Việc lành mạnh hóa bảng cân đối tài chính của hệ thống tổ chức tín dụng không chỉ là yêu cầu nội tại của ngành, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tăng trưởng bền vững và an toàn hệ thống, tái phân bổ nguồn lực và ổn định hệ thống tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Tất nhiên, để thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, VAMC cần một cuộc “cách mạng về tư duy”, đó là phải chuyển từ mô hình “mua nợ để giữ” sang xử lý nợ chủ động. Và nếu được trao đủ “nhân lực - tài lực - quyền lực - năng lực số hóa”, VAMC hoàn toàn có thể trở thành “cánh tay nối dài” hiệu quả của Nhà nước trong việc bảo vệ sự an toàn và bền vững của hệ thống tài chính quốc gia.

Ngày xuất bản: 7/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật, Thảo Lê, Quỳnh Trang, Minh Phương, Ngọc Diệp
(Bài có sử dụng hỗ trợ của AI trong thiết kế)

Trụ sở Viettel. (Ảnh: TTXVN)

Trụ sở Viettel. (Ảnh: TTXVN)