Thực trạng
Tỷ lệ nhập siêu ở Việt Nam những năm gần đây ở mức tương đối cao. Nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu đầu vào phục vụ nhu cầu đầu tư (chiếm 97% năm 2007). Kinh nghiệm các nước cho thấy, khi tăng nhập khẩu (NK) thông qua tăng đầu tư trong nước thì có thể kỳ vọng vào sự tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu (XK) và tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Nhìn dưới góc độ này, NK cao là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế. Ở Việt Nam, khi nguồn cung ứng ngoại tệ thuận lợi như thời gian qua, thì việc tranh thủ NK để đầu tư cũng là điều cần thiết.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng tỷ lệ NK nguyên liệu thô, bán thành phẩm chiếm tỷ trọng rất cao (hơn 60% giai đoạn 1991 - 2000 và 57% trong giai đoạn 2001 - 2007). Tỷ trọng kim ngạch NK máy móc, thiết bị quá thấp (bình quân 28,7% giai đoạn 1991 - 2000 và 27% giai đoạn 2001 - 2007) so với các nước đang tiến hành CNH (khoảng 40%). NK dịch vụ quá nhỏ bé và đặc biệt là các phát minh, sáng chế gần như chưa có. Ðiều này một mặt làm hạn chế quá trình đẩy mạnh CNH, HÐH, mặt khác làm hạn chế tăng năng suất nhân tố tổng hợp và kết quả là giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ.
Hơn nữa, sự phụ thuộc quá mức hiện nay của Việt Nam vào nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm phục vụ XK làm gia tăng mức độ rủi ro XK, bởi vì đây là nhóm hàng có độ co giãn về giá cao, dễ bị biến động lớn về giá khi môi trường kinh tế thay đổi. Những yếu tố này làm cho việc giảm nhập siêu trong dài hạn gặp nhiều khó khăn.
Tỷ lệ nhập siêu cao thể hiện khả năng cạnh tranh thấp của hàng hóa XK và hàng hóa thay thế NK được sản xuất trong nước. Ðiều này thể hiện trước hết là tăng trưởng XK của ta chủ yếu tăng về lượng, yếu tố giá trị gia tăng chưa phải là đặc trưng của hàng XK. Nhóm hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu là xuất thô, với giá thấp hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại của Thái-lan; các sản phẩm chế biến như dệt may, da giày hàm lượng nguyên liệu nhập khẩu còn quá cao. Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao quá nhỏ bé (4,2% năm 2004, trong khi Trung Quốc là 30%). Việt Nam cần NX nhiều nguyên liệu, phụ liệu, bán thành phẩm bởi vì chất lượng nhóm hàng này được sản xuất trong nước thấp.
Nhập siêu mức độ lớn và kéo dài thể hiện sự chậm chạp trong chuyển dịch cơ cấu XK theo hướng gia tăng tỷ trọng XK hàng công nghiệp chế biến. Phân tích cơ cấu XK của nước ta giai đoạn 1995 - 2007 cho thấy mức độ gia tăng của hàng XK chế biến là quá thấp. Không tăng được tỷ trọng hàng xuất khẩu công nghiệp chế biến thì khả năng cải thiện cán cân thương mại (CCTM) là rất khó khăn.
Trước mắt, thâm hụt CCTM chưa gây biến động lớn đối với ổn định kinh tế vĩ mô, mà trong nhiều năm qua chúng được bù đắp chủ yếu bằng thặng dư của cán cân vốn, các khoản chuyển giao như viện trợ nước ngoài và nguồn kiều hối. Tuy nhiên, xét về dài hạn, thâm hụt CCTM đang tiềm ẩn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ổn định và tăng trưởng kinh tế bền vững. Những biểu hiện đó là: Hiệu quả sử dụng vốn thấp; đầu tư vào những ngành cần nhiều vốn và mức sinh lời thấp; khả năng cạnh tranh của những ngành xuất khẩu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang công nghiệp chế biến và kỹ thuật cao thể hiện xu thế của công nghiệp hóa và hội nhập sâu chưa thật rõ nét; tỷ trọng nguyên liệu nhập khẩu còn cao và ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu kém.
Giải pháp
Ðể hạn chế nhập siêu, những năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã áp dụng nhiều biện pháp như: khuyến khích phát triển xuất khẩu, quản lý nhập khẩu, điều chỉnh tỷ giá hối đoái, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, quản lý nợ, chống buôn lậu, gian lận thương mại... Tuy nhiên, những giải pháp này được áp dụng chưa đồng bộ và còn có những ý kiến khác nhau về tình trạng nhập siêu và các giải pháp để hạn chế nó. Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh CCTM như sau:
Ðiều tiết CCTM trong dài hạn nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế bền vững phải sử dụng đồng bộ các biện pháp như thương mại, đầu tư, tỷ giá hối đoái, quản lý nợ nước ngoài và các biện pháp khác. Chỉ sử dụng giải pháp thương mại, thị trường không thể cải thiện được CCTM trong dài hạn. Sự phối hợp các chính sách trong điều tiết CCTM là hết sức cần thiết.
Ðiều tiết CCTM không phải là tìm mọi biện pháp để đạt được sự cân bằng. Cân bằng CCTM không phải là mục tiêu cuối cùng, mà mục tiêu là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, cần có những biện pháp điều chỉnh linh hoạt tùy theo từng giai đoạn công nghiệp hóa (CNH). Ðể đẩy mạnh CNH cần nhanh chóng chuyển sang áp dụng mô hình CNH theo hướng xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh và tự do hóa nhập khẩu cạnh tranh để khai thác lợi thế của quá trình tự do hóa thương mại.
Ðể hạn chế nhập siêu, biện pháp chủ công là phát triển xuất khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu để cải tiến công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế có vai trò quyết định tăng xuất khẩu. Do đó, hạn chế nhập khẩu quá mức sẽ không thể cải thiện được CCTM trong dài hạn. Nhập khẩu thúc đẩy phát triển công nghệ, là nhân tố quyết định tăng năng suất nhân tố tổng hợp, do đó có tác dụng nâng cao khả năng cạnh tranh và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu.
Cần có độ mở cửa đúng mức để đón nhận những cơ hội từ bên ngoài. Sớm xây dựng các hàng rào kỹ thuật cần thiết mà không vi phạm quy định của WTO.
Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những biện pháp quan trọng để giảm nhập khẩu nguyên vật liệu và phụ kiện, nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Cần có nghiên cứu chi tiết (định lượng) để tính toán lại các mục tiêu về tăng trưởng xuất, nhập khẩu bảo đảm khai thác các lợi thế của mở cửa, hội nhập. Cụ thể là xác định mức nhập khẩu cho phép bảo đảm sức chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài nhằm phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp CNH, HÐH.