Bộ trưởng Nguyễn Quân: Đề tài “xếp ngăn kéo” cũng có nhiều loại

NDĐT - Thuật ngữ “xếp ngăn kéo” là thuật ngữ chúng ta thường được nghe, tuy nhiên các đề tài “xếp ngăn kéo” có ba loại: đề tài nghiên cứu cơ bản đi trước thời đại, đề tài nghiên cứu tốt nhưng không có tiền đầu tư, và đề tài “xếp ngăn kéo” thật sự, Bộ trưởng Khoa học - Công nghệ Nguyễn Quân cho biết.

Ảnh: Đăng Khoa.
Ảnh: Đăng Khoa.

Thiếu định chế trung gian khiến thị trường KHCN hoạt động yếu

Sáng 12-6, Bộ trưởng Nguyễn Quân đăng đàn trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về những vấn đề liên quan đến nghiên cứu khoa học và quản lý ngành trong thời gian qua.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng): Vì sao đến nay, nước ta chưa có thị trường khoa học và công nghệ, phải chăng do cơ chế phân bổ đề tài, phân bổ kinh phí cho lĩnh vực này là một trong những nguyên nhân làm cho thị trường khoa học - công nghệ (KHCN) chậm ra đời? Bộ trưởng có trách nhiệm và giải pháp gì trong vấn đề này?

Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng thị trường KHCN là thị trường phát triển muộn nhất trong các thị trường của nền kinh tế Việt Nam. Manh nha của thị trường này đã có bắt đầu từ thời kỳ Đổi mới. Sau năm 2000 thị trường công nghệ mới bắt tay vào việc xây dựng. Đến năm 2004, Thủ tướng Chính phủ có quyết định hình thành thị trường KHCN và đến năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định nữa về thúc đẩy phát triển thị trường KHCN.

Theo Bộ trưởng, trong thị trường KHCN có bốn yếu tố. Trước đây chúng ta chỉ quan tâm đến hai yếu tố là nguồn cung và nguồn cầu. Còn hai yếu tố nữa chưa được quan tâm thỏa đáng đó là các định chế trung gian trong thị trường công nghệ và môi trường pháp lý, pháp luật của thị trường công nghệ.

Trong những năm gần đây, Bộ KHCN đã tập trung xây dựng tính pháp lý cho thị trường KHCN thông qua việc xây dựng các đạo luật. Đến nay cơ bản môi trường pháp lý về thị trường KHCN đã được hoàn thiện.

Bộ trưởng cũng thừa nhận yếu tố yếu kém nhất vẫn là các định chế trung gian trong thị trường công nghệ (CÔNG NGHệ) khiến các nhà khoa học không đến được với DN hay kết quả nghiên cứu không đến được với sản xuất kinh doanh. Các định chế trung gian là các tổ chức làm dịch vụ trong thị trường KHCN như các tổ chức môi giới, tư vấn, giám định, đánh giá, định giá, kiểm tra, kiểm định… Vì không có nên các nhà khoa học không tìm được địa chỉ ứng dụng kết quả của mình, trong khi các doanh nghiệp lại đi tìm nguồn KHCN khác nhập khẩu từ nước ngoài.

Bộ trưởng cho rằng, cần đẩy mạnh xây dựng các định chế trung gian. Mấy năm qua, Bộ đã tập trung vào vấn đề này. Các sàn giao dịch công nghệ ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh bắt đầu đi vào hoạt động - Đây là nơi các doanh nghiệp cùng các nhà khoa học có thể gặp nhau thông qua các tổ chức trung gian là ban quản lý các sàn giao dịch công nghệ. Thông qua việc tổ chức các chợ công nghệ, thiết bị quốc gia, khu vực và quốc tế, các nhà khoa học và doanh nghiệp đã ký được nhiều hợp đồng để chuyển giao công nghệ.

Vấn đề khó khăn hiện nay là ngân sách và biên chế trong việc hình thành các tổ chức dịch vụ trung gian trong thị trường công nghệ công lập, trong khi tư nhân thì chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này. “Chúng tôi đã trình Chính phủ ban hành nghị định về phát triển thị trường KHCN và có một chương trình quốc gia về phát triển thị trường KHCN. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ tìm kiếm các nguồn đầu tư có thể sớm thành lập các đơn vị định chế trung gian thị trường công nghệ nhằm hỗ trợ tốt hơn cho nguồn cung và nguồn cầu”, Bộ trưởng nói.

“Trong mười năm qua, từ khi có thị trường KHCN nhưng chúng tôi vẫn chưa làm được nhiều trong việc thành lập ra các tổ chức trung gian để có thể hoàn thiện bốn khâu của thị trường KHCN. Trong một vài năm tới, chúng tôi sẽ tập trung vào khâu yếu nhất này để thị trường KHCN có thể hoạt động một cách hiệu quả”, Bộ trưởng hứa.

Hạn chế đề tài “xếp ngăn kéo” do không đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Tại phiên chất vấn, đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) đặt vấn đề: Hiện nay, mặc dù còn rất khiêm tốn nhưng mỗi năm ngân sách nhà nước dành khoảng 1.300 tỷ đồng chi cho các công trình nghiên cứu khoa học, Luật KHCN sửa đổi được Quốc hội thông qua, tuy nhiên tình trạng đề tài nghiên cứu xong rồi “xếp ngăn kéo” là khá phổ biến. Tỷ lệ các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế còn rất thấp và chưa được công khai gây ra lãng phí lớn. Cử tri đặt câu hỏi có phải sản phẩm KHCN của chúng ta “nghiệm thu trên bàn” là chủ yếu, có phải do chúng ta đầu tư dàn trải không tập trung, đầu tư không đúng chỗ, đúng người, đúng việc hay có hay không cơ chế xin - cho. Đề nghị Bộ trưởng cho biết nguyên nhân và trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề này và đến bao giờ tình trạng này cơ bản được khắc phục.

Trả lời câu hỏi này, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho rằng: Thuật ngữ “xếp ngăn kéo” là thuật ngữ chúng ta thường được nghe, tuy nhiên các đề tài “xếp ngăn kéo” có ba loại. Đó là: Nghiên cứu cơ bản về cơ bản là xếp ngăn kéo, bởi vì nó đi trước thời đại, nó nằm trong ngăn kéo để chờ đợi trình độ phát triển của xã hội đến một mức độ nhất định để ứng dụng được. Bộ trưởng lấy thí dụ, chất bán dẫn được người Mỹ nghiên cứu từ thập kỷ 50 của thế kỷ trước nhưng phải nằm ngăn kéo đến thập kỷ 60 khi người Nhật mua sáng chế đó thì nó mới trở thành sản phẩm hàng hóa. Và ngày nay, sáng chế đó đóng góp cho thế giới hơn 20 nghìn tỷ USD. Vì thế, các đề tài nghiên cứu cơ bản chúng ta phải chấp nhận nó phải có một giai đoạn chờ đợi.

Thứ hai, là những đề tài nghiên cứu ứng dụng, có một số đề tài để trở thành sản phẩm hàng hóa ứng dụng thì kèm theo nó phải có điều kiện về đầu tư. Rất nhiều đề tài tốt nhưng không tìm được nguồn đầu tư, còn ngân sách nhà nước chỉ chi cho giai đoạn nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm. Vì thế, muốn trở thành sản phẩm thương mại hóa, phải có sự đầu tư từ doanh nghiệp. Trong khi doanh nghiệp của chúng ta hầu hết là nhỏ và siêu nhỏ, chưa đủ năng lực đầu tư cho nên nhiều kết quả nghiên cứu tốt vẫn phải chờ hoặc có một tập đoàn lớn đầu tư hoặc phải tìm kiếm nguồn đầu tư từ trong nước và nước ngoài.

Bộ trưởng cũng thừa nhận có một số loại đề tài “xếp ngăn kéo” thực sự, tức là nghiên cứu xong không ứng dụng được. Điều này xuất phát từ chỗ các đề tài này không được nghiên cứu từ nhu cầu thực tiễn của đời sống. Nghiên cứu theo sở thích và mong muốn của người làm khoa học. Tất nhiên việc này cũng là việc tốt vì những người làm khoa học có ý tưởng, có mong muốn, chỉ có điều họ nghiên cứu mà không xuất phát từ thực tiễn, từ đòi hỏi của việc sản xuất và kinh doanh cho nên khi nghiên cứu xong thì hoàn toàn không ứng dụng được.

Bộ trưởng cho biết, Luật Khoa học - công nghệ 2013 đã có quy định rõ để khắc phục vấn đề này. Quy định từ nay những nhiệm vụ sử dụng theo ngân sách nhà nước là những nhiệm vụ theo đặt hàng, có nghĩa là phải xuất phát từ nhu cầu của sản xuất và kinh doanh, từ cuộc sống chứ không phải từ ý thích của những nhà khoa học. Nghị định 08/2014 đưa ra cơ chế đặt hàng. Theo đó mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền đề xuất ý tưởng, mong muốn của mình, nhưng cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị xác định xem đề xuất đó có phù hợp không, có đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế xã hội hay không, sau đó mới đề xuất đặt hàng với cơ quan KHCN.

Về câu hỏi bao giờ chấm dứt tình trạng đề tài “xếp ngăn kéo”, Bộ trưởng khẳng định nếu, chúng ta thực hiện nghiêm Luật KHCN 2013 thì sẽ không còn tình trạng các đề tài nghiên cứu xong phải bỏ, nghiên cứu gây lãng phí cho ngân sách nhà nước mà không ứng dụng được. “Có điều chúng ta có thực hiện nghiêm túc theo luật hay không?” Ông Nguyễn Quân vẫn đặt câu hỏi ngỏ.

Ngân sách cho khoa học - công nghệ có bị lãng phí hay không?

Trong phiên chất vấn sáng nay, rất nhiều đại biểu quan tâm đến việc sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước 2% phân bổ cho KHCN.

Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết, một năm không phải chỉ có 1.300 tỷ đồng cho việc nghiên cứu KHCN. Hiện nay 20% của 2% ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ nghiên cứu từ cấp quốc gia cho tới cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở, cho nên, hằng năm có khoảng trên dưới 3.000 tỷ đồng dành cho hoạt động này.

Đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) đặt câu hỏi: Quyết toán ngân sách cho KHCN hằng năm năm nào cũng chỉ đạt 80%, liệu có đạt hiệu quả không? Liệu có nên phân bổ 2% ngân sách nữa không? Trách nhiệm thuộc về ai?

Bộ trưởng cho biết, dù kinh phí cho KHCN chiếm 2% ngân sách, nhưng phần ngân sách dự phòng cho quốc phòng tăng lên quá nhiều nên phần thực giao cho ngành KHCN chỉ đạt dưới 1,5%.

Nhưng Bộ trưởng cũng thừa nhận trên thực tế có tình trạng sử dụng không hết. Trước đây, cũng như công trình xây dựng cơ bản, công trình KHCN được duyệt từ tháng bảy năm trước, nên khi giao kinh phí đề tài đã lạc hậu, có người khác nghiên cứu rồi, hoặc đã có chuyển giao công nghệ quốc tế rồi, nên nhà khoa học tự nguyện không nghiên cứu nữa. Khoản tiền này chỉ còn cách hoàn lại ngân sách Nhà nước chứ không được sử dụng cho đề tài khác. Bộ trưởng cũng cho biết, một số địa phương sử dụng tốt ngân sách địa phương dành cho khoa học như Quảng Ninh, nhưng cũng có địa phương chỉ sử dụng hết 30% của 2% ngân sách đó.

Theo Bộ trưởng, nếu thực hiện theo Nghị định 95 chắc chắc tình trạng này sẽ được khắc phục, sẽ phải thực hiện phê duyệt kinh phí hằng năm. Tuy nhiên, khó có thể bảo đảm 100%. Việc các đề tài dự án mà cơ quan chủ trì không bảo đảm được nguồn vốn đối ứng thì Bộ KHCN cũng không thể cấp kinh phí tiếp vì không có kết quả cuối cùng.

“Nghiên cứu khoa học là lĩnh vực có tính mạo hiểm, tỷ lệ thành công trên thế giới không có quốc gia nào đạt 100%. Tỷ lệ đề tài ứng dụng thành công trên thế giới trung bình là 20%, Việt Nam đạt 18%, thấp hơn mức trung bình một chút”, Bộ trưởng Nguyễn Quân phân trần.

Chưa thỏa mãn với phần trả lời của Bộ trưởng KHCN, đại biểu Nguyễn Thị Khá và một số đại biểu tiếp tục chất vấn Bộ trưởng về vấn đề có hay không lãng phí trong việc sử dụng ngân sách.

Theo ông Nguyễn Quân, tổng số tiền đầu tư cho KHCN hằng năm là 17.300 tỷ đồng trong đó 40% đầu tư cho phát triển, bao gồm đầu tư trang thiết bị cho các cơ quan khoa học, 40% dành chi thường xuyên: chi trả lương, hoạt động bộ máy, còn xấp xỉ 20%, tức khoảng 1.300 tỷ đồng để dành cho nghiên cứu khoa học. Nếu chia số tiền này cho 40.000 cán bộ khoa học trong cả nước thì tỷ lệ đầu tư rất thấp, mỗi viện nghiên cứu chỉ được hơn 1 tỷ đồng, mỗi cán bộ chỉ có 30 triệu đồng mỗi năm cho nghiên cứu khoa học.

“Lãng phí, nếu có, tôi cho rằng liên quan đến cơ chế đầu tư không tới ngưỡng, đề tài không phù hợp”, Bộ trưởng nói. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định đến nay không có tham nhũng, tiêu cực trong việc sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học.

Có thể bạn quan tâm