ND - Tỉnh Bình Thuận chỉ đạo các địa phương tập trung rà soát, bổ sung quy hoạch, khuyến khích doanh nghiệp nâng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh vào các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (TTCN), làng nghề.
Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ; đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị, vật tư; đóng, sửa tàu thuyền bằng vật liệu mới, sản xuất vật liệu xây dựng... tạo điều kiện để phát triển TTCN ở nông thôn. Trước mắt, mỗi huyện chọn từ một đến hai cụm công nghiệp - TTCN, làng nghề để tập trung phát triển, hoạt động có hiệu quả.
Bình Thuận hiện có 47 làng nghề đang hoạt động với diện tích khoảng 350 ha, có hơn 6.200 hộ tham gia sản xuất, giải quyết việc làm cho hơn 20 nghìn lao động. Tỉnh có 21 làng nghề được công nhận và chọn 33 cụm công nghiệp, TTCN, làng nghề. Hoạt động của các làng nghề đã tạo nên bộ mặt mới ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn; giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Làng nghề ở Bình Thuận phần lớn là nghề truyền thống như làm bánh tráng, đan mây tre, mộc dân dụng, dệt thổ cẩm, gốm..., một số làng nghề mới được hình thành, đan lát các sản phẩm từ mây, tre, lục bình, bẹ chuối đã tận dụng được nguồn nguyên liệu dồi dào và lao động tại địa phương. Nhiều nơi hoạt động ổn định và hiệu quả như làng nghề chế biến hải sản Phú Hải, Mũi Né (Phan Thiết), làng nghề mía đường Tân Minh (Hàm Tân), dệt thổ cẩm Phan Thanh (Bắc Bình), cụm công nghiệp - TTCN Mê Pu, làng nghề gạch ngói Vũ Hòa (Ðức Linh)... Thu nhập bình quân của lao động ở các làng nghề mộc dân dụng, sản xuất gạch ngói, chế biến hải sản từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng/người/tháng và 500.000 đến 700.000 đồng/ người/tháng đối với các làng nghề mây tre đan, dệt thổ cẩm...
Từ đầu năm đến nay, tỉnh mở các lớp đào tạo nghề, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, làm gốm cho hàng nghìn lao động, bồi dưỡng kiến thức, quản lý, kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tại các làng nghề; trong đó có hàng trăm lao động và cán bộ quản lý làng nghề là người dân tộc Chăm, Cơ Ho. Các địa phương mở thêm nhiều lớp đào tạo nghề ngắn hạn gắn với giải quyết việc làm cho gần một nghìn lượt người với kinh phí 621 triệu đồng, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số.
* Tỉnh Thái Nguyên đã ban hành quyết định (số 461/QÐ-UBND) phê duyệt kế hoạch thực hiện Ðề án phát triển chè tỉnh Thái Nguyên năm 2009 với mục tiêu trồng mới và trồng lại 600 ha chè giống mới, an toàn được nhân bằng phương pháp giâm cành bao gồm: Giống chè LDP1, TRI777, Shan và các giống nhập nội theo đúng quy trình kỹ thuật.
Theo đó, tỉnh đã triển khai quy hoạch vùng sản xuất, chế biến chè an toàn, trong đó trồng mới là 200 ha và trồng lại là 400 ha (tỉnh quy định rõ không trồng mới và trồng lại chè bằng hạt). Xây dựng mới và mở rộng mô hình sản xuất, chế biến chè an toàn theo quy chuẩn từ điều kiện sản xuất, chế biến, tổ chức sản xuất, chế biến. Duy trì, mở rộng diện tích thâm canh chè theo hướng an toàn.
Tỉnh đã thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân 30% kinh phí mua các giống chè nhập nội, các hộ nông dân thực hiện trồng mới và trồng lại chè, thâm canh, cải tạo chè được tham gia tập huấn kỹ thuật. Các tổ chức đăng ký sản xuất, chế biến chè theo tiêu chuẩn VIETGAP được hỗ trợ 100% kinh phí cho thẩm định và cấp giấy chứng nhận.
Mục tiêu phấn đấu của toàn tỉnh trong năm 2009 là đạt năng suất bình quân 95 tạ/ha/năm, sản lượng 145 nghìn tấn. Sản lượng chè qua chế biến công nghiệp chiếm 50% tổng sản lượng búp tươi. Xuất khẩu ổn định khoảng 40% tổng sản lượng chè.