Tại phiên họp thứ 38 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bình đẳng giới hay bình đẳng nam nữ

Tại phiên họp thứ 38, buổi sáng ngày 30-3, Ủy ban Thường vụ QH đã thảo luậnvề dự án Luật bình đẳng giới. Đây là dự án luật do Ban chấp hành T.Ư Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam xây dựng và là cơ quan trình dự án.

Trình bày tờ trình dự án luật trước Ủy ban Thường vụ QH, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã nêu rõ sự cần thiết ban hành Luật bình đẳng giới bởi các lý do sau đây: Một là, tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng ta về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Hai là, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, khắc phục tình trạng quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ chưa được thực hiện nghiêm túc. Ba là, tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế.

Dự án luật có sáu chương, 34 điều, quy định về: bình đẳng giới; biện pháp bảo đảm bình đẳng giới; trách nhiệm bảo đảm bình đẳng giới; thanh tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Bà Hà Thị Khiết cũng đã trình bày về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đó là: Tên gọi của luật, tuổi nghỉ hưu của người lao động, trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án luật này, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của QH Nguyễn Thị Hoài Thu, thay mặt Ủy ban đã phân tích và nêu rõ quan điểm của Ủy ban về 13 vấn đề cơ bản của dự án Luật bình đẳng giới.

Trên cơ sở đó, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ QH đã thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề của luật, từ nội dung đến kỹ thuật văn bản. Một số ý kiến nhận xét, đây là một đạo luật “khó”, luật chung, nhưng luật chung thì cũng phải quy định rõ ràng chứ không thể sử dụng ngôn ngữ Nghị quyết và công ước quốc tế. Về tên gọi của luật, Tờ trình nêu hai loại ý kiến khác nhau là: Luật bình đẳng giới (như dự thảo) và Luật bình đẳng nam nữ. Báo cáo thẩm tra, ngoài hai tên gọi nói trên, còn nêu ra các tên gọi khác: Luật bảo đảm thực hiện bình đẳng nam, nữ; Luật chống phân biệt đối xử nam nữ; Luật về quyền lợi của phụ nữ. Tuy nhiên, đa số ý kiến thành viên Ủy ban về các vấn đề xã hội của QH tán thành tên gọi như dự thảo là Luật bình đẳng giới. Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị cứ đưa cả hai tên gọi: Luật bình đẳng giới và Luật bình đẳng nam, nữ trình QH xem xét, quyết định.

Về phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1, các ý kiến còn khác nhau.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, vấn đề bình đẳng giới cụ thể trong các lĩnh vực đã có hoặc sẽ có các luật chuyên ngành điều chỉnh. Vì vậy, Luật bình đẳng giới chỉ nên quy định các nguyên tắc bình đẳng giới chung mang tính khái quát hoá các quyền bình đẳng nam, nữ nói chung trong các lĩnh vực và làm căn cứ để các luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ cụ thể.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, việc xây dựng Luật bình đẳng giới là một cơ hội để rà soát, xem xét lại các quy định của pháp luật hiện hành và pháp điển hoá tất cả các quy định về bình đẳng giới, đồng thời dự kiến các quy định mới về vấn đề này đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Loại ý kiến thứ ba cho rằng, Luật nên kết hợp quy định các vấn đề có tính chất nguyên tắc và những vấn đề đang bức xúc liên quan đến bình đẳng giới trong đời sống xã hội, đặc biệt là cụ thể hoá các biện pháp để thực hiện bình đẳng giới.

Ngoài ra, có ý kiến cho rằng Luật bình đẳng giới nhằm mục tiêu bình đẳng cho nam giới, nữ giới, bé gái và bé trai, nên luật cần bổ sung các quy định để thể hiện bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái, tạo điều kiện cho trẻ em có đầy đủ tố chất có thể bình đẳng thật sự sau này.

Đa số ý kiến Ủy ban cho rằng, Luật nên tập trung vào quy định các nguyên tắc bình đẳng, các biện pháp bảo đảm, tiến tới sự bình đẳng giới; tạo điều kiện để nam, nữ bình đẳng về cơ hội, nguồn lực và kết quả phát triển của xã hội, từ khi được sinh ra cho tới khi chết đi.

Một trong những vấn đề cơ bản của dự án được nhiều người quan tâm là tuổi nghỉ hưu của người lao động (khoản 3, Điều 11). Dự thảo đưa ra ba phương án như sau:

Phương án 1:

Nữ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có quyền nghỉ hưu ở độ tuổi như nam giới; nếu có nguyện vọng, được nghỉ sớm không quá năm năm, không bị trừ phần trăm lương hưu do nghỉ trước tuổi.

Phương án 2:

Nữ cán bộ, công chức, viên chức có quyền nghỉ hưu ở độ tuổi như nam giới; nếu có nguyện vọng, được nghỉ sớm không quá năm năm, không bị trừ phần trăm lương hưu trước tuổi.

Phương án 3:

Tuổi nghỉ hưu của nữ cán bộ, công chức, viên chức trong một số lĩnh vực, ngành nghề do Chính phủ quy định.

Về vấn đề này, một số ý kiến phân tích, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ (bao gồm cả cán bộ, công chức) ít hơn nam cùng ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn năm tuổi là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lao động nữ, đáp ứng nhu cầu của lao động nữ, phù hợp với bối cảnh lịch sử khi chính sách ra đời (1963). Đó thật sự là một chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước ta để phụ nữ có điều kiện chăm lo gia đình, bảo vệ sức khoẻ phụ nữ. Theo tinh thần Điều 4 Công ước CEDAW, việc quy định tuổi nghỉ hưu chênh lệch năm năm giữa nam và nữ có thể được coi như là một “biện pháp đặc biệt tạm thời” nhằm thúc đẩy nhanh bình đẳng thực tế giữa nam và nữ (về sức khỏe, điều kiện gia đình... khi hết tuổi lao động). Đến nay, điều kiện kinh tế-xã hội đã có nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân cải thiện, dịch vụ xã hội đa dạng, phong phú, sức khoẻ và tuổi thọ của phụ nữ được nâng lên, do đó đã đến lúc không nên tiếp tục duy trì chính sách khác biệt được quy định từ năm 1963 đối với tất cả các nhóm lao động nữ. Vì vậy phương án 1 là phương án tốt nhất.

Nhưng một số ý kiến khác lại đề nghị, chỉ nên quy định cán bộ quản lý, cán bộ khoa học nghỉ hưu ở tuổi 60 (phương án 4). Có ý kiến lại cho rằng, đây là luật chung thì thế nào cũng trùng với các luật khác có liên quan. Thí dụ, độ tuổi của lao động nữ trùng với quy định của Bộ luật lao động, pháp lệnh cán bộ, công chức, cho nên không nên quy định cụ thể ở luật này mà để các luật khác quy định.

Vấn đề “lồng ghép giới” cũng được nhiều ý kiến đề cập. Dự thảo đã quy định một biện pháp quan trọng để bảo đảm bình đẳng giới là lồng ghép giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức. Việc thực hiện tốt biện pháp này sẽ có tác dụng rất lớn thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm cho phụ nữ và nam giới tham gia một cách bình đẳng vào quá trình ra quyết định, tiếp cận và kiểm soát một cách bình đẳng các cơ hội, nguồn lực, tạo kết quả phát triểu bình đẳng cho phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai...

Về thuật ngữ “lồng ghép giới” khoản 4, Điều 3 của dự thảo quy định :“Lồng ghép giới là một biện pháp bảo đảm để đạt bình đẳng giới trong xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật và hoạt động của các cơ quan, tổ chức”.

Theo nhiều ý kiến thì việc giải thích khái niệm này chưa thoả đáng, không rõ, do đó cần giải thích theo nghĩa “vật chất” của hoạt động lồng ghép giới như là đánh giá quá trình tác động khác nhau của chính sách, pháp luật, của việc thực thi chính sách, pháp luật và hoạt động của cơ quan, tổ chức đối với nam và nữ, xác định trách nhiệm, nguồn lực... để giải quyết vấn đề bình đẳng giới...

Dự thảo đã quy định nội dung của lồng ghép giới trong việc xây dựng, thực hiện chính sách. Tuy nhiên, chưa đưa nội dung của việc lồng ghép giới trong thực thi chính sách và hoạt động của cơ quan, tổ chức. Về vấn đề này, cơ quan soạn thảo cần có bổ sung để các quy định nhất quán và rõ ràng hơn.

Vấn đề thẩm định lồng ghép giới, theo quy định tại các khoản 6 Điều 20 và Điều 27 của dự thảo, cơ quan thẩm định lồng ghép giới là Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách trải từ trung ương đến địa phương, do vậy việc tổ chức thẩm định hệ thống dọc như thế nào (Hội liên hiệp phụ nữ ở trung ương và địa phương) cũng là vấn đề cơ quan soạn thảo phải tính đến trong việc thực hiện nhiệm vụ này và có giải trình thêm về tính khả thi.

Có ý kiến phát biểu còn đề nghị không nên đưa khái niệm: Thanh tra bình đẳng giới vào luật, ý kiến khác đề nghị cân nhắc kỹ khoản 2 Điều 11 quy định: "Nam cán bộ, công chức và người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi người vợ sinh con”; quy định các hành vi bị nghiêm cấm ở Điều 7.

Có thể bạn quan tâm