Trên đất nước ta, từ bắc chí nam, không chỉ trong chùa, trong lao động sản xuất, việc dựng nước và bảo vệ đất nước vẫn dùng tiếng mõ. Lịch sử Ðảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã ghi lại những ngày Tháng Tám sôi sục ở Sài Gòn năm 1945 - một thời tiếng mõ tre mộc mạc của nhân dân vùng ven Sài Gòn - Gia Ðịnh, khiến quân thù phải khiếp sợ - một thứ âm thanh đặc biệt - âm thanh của cách mạng, của khát vọng đấu tranh đòi lại quyền sống, hiện hữu trong tất cả các hoạt động của người dân vùng ven Sài Gòn lúc bấy giờ, khiến bọn giặc vừa run sợ, vừa căm tức: "Hễ nơi nào có tiếng mõ thì ở đó có cách mạng", chúng đi lùng sục, bắt bớ, đánh đập dã man, "nhưng nó vẫn ngày đêm vang lên để minh chứng hùng hồn về tinh thần đoàn kết một lòng, một dạ đi theo Ðảng, theo cách mạng".
Bà Nguyễn Thị Thử, nay đã ở tuổi 91, một trong những người đánh tiếng mõ Ðồng khởi đầu tiên năm 1960 ở xã Ðịnh Thủy (Mỏ Cày - Bến Tre), cho biết: Mõ có nhiều loại, phổ biến là làm bằng tre và cây dầu u. Việc đánh mõ ở Mỏ Cày là từ thời vùng đất này còn hoang vu, thú dữ nhiều, dân cư thưa thớt. Con người đi phá rừng, cày ruộng phải đánh mõ, một mặt là tập hợp nhau lại, nhưng mặt khác cũng là để đánh động xua tan bầy thú rừng đang rình rập hại người và súc vật. Tiếng mõ ấy được duy trì và phát huy cho đến ngày đồng khởi, cũng là tập hợp lực lượng, đồng thời là để uy hiếp tinh thần giặc.
Theo bà Thử, công dụng của mõ tre thời đồng khởi rất đa năng, nên lúc đó "nhà nào cũng có vài cái". Không có tre hoặc dầu u, thì dùng hai miếng gáo dừa gõ lại cũng xong, miễn tạo âm thanh là được. Trong xã, ấp nào cũng có một chiếc mõ lớn hơn. Tiếng mõ của ấp dùng để thông tin rộng rãi trong làng xóm. Tùy theo nội dung thông tin mà có cách gõ khác nhau, gõ ba khắc (ba tiếng) là báo động, gõ liên hồi là sơ tán vì có giặc vào làng. Tiếng mõ của ấp gõ xong thì từng nhà dân đem mõ của mình ra gõ. Cứ vậy, tiếng mõ rền vang từ nhà này qua nhà khác, từ đầu làng đến cuối xóm, hễ có giặc tới là gõ, một mặt là để dân chúng và cán bộ kịp chuẩn bị, mặt khác, giặc nghe tiếng mõ cũng sợ, không dám tiến vào.
Bà Thử khẳng định: "Tiếng mõ tre gọi hồn dân tộc, thôi thúc mọi người tiếp nối đứng lên, hết lớp này đến lớp khác không run sợ bất cứ một kẻ thù nào. Tiếng mõ Ðồng khởi từ đó mà lan ra các xã lân cận, rồi cả huyện, đến khắp cù lao Minh, cả tỉnh Bến Tre. Ðến năm 1965 - 1966, tôi còn nhớ, tiếng mõ vẫn còn vang vọng khắp các vùng giải phóng".
Theo sư thầy Thích Giác Duyên, đánh mõ là cách chiêu tập các vị tu hành. Có hai loại mõ. Loại hình con cá thẳng, dài treo ở nhà kho, nhà ăn đến lúc dùng cơm thì gõ lên để báo hiệu, loại hình con cá có vẩy cuộn tròn chỉ được sử dụng khi tụng kinh. Vì vị trí của chùa ở nơi thâm sơn cùng cốc, muốn gặp các bậc cao tăng không dễ, nên thống nhất thay người đi mời bằng tiếng mõ, chư vị nghe là đến. Sau đó, các tự viện lớn nhỏ dưới chân núi, dùng tiếng mõ để tập hợp chúng sinh. Tiếng mõ không chỉ báo hiệu sớm tối, mà còn là lời "tán tụng trợ giúp đại chúng trong việc tu học, hướng họ đến bờ giác ngộ".
Ðồng cảm với sư thầy Thích Giác Duyên, sư thầy Thích Thiện Từ ở chùa Giác Ngộ, cho rằng: Tiếng mõ dùng để "thức tỉnh con người". Theo ông, đánh mõ đúng cách phải đều đặn, chậm rãi, không mạnh cũng không nhẹ, thái quá sẽ mất trang nghiêm. Tiếng mõ cũng có "hồn", hồn của mõ chính là "hồn" của người đánh. Tiếng mõ khó diễn tả bằng lời. Không ít người đã say mê bởi những nét trong trẻo xen lẫn trầm hùng, uy nghiêm nhưng lại nhẹ nhàng, uyển chuyển. Như chiêng, như trống, chiếc mõ tre vẫn hiện diện trong muôn mặt cuộc sống.
Ấp Tân Lễ II, xã Tân Trung (Mỏ Cày), cách trung tâm xã chưa đến ba cây số và trung tâm huyện gần 20 km là vùng sâu, với địa bàn giáp ranh nhiều xã, tình hình an ninh trật tự phức tạp do băng, nhóm thanh niên ở các xã lân cận đến đây quậy phá. Thủ đoạn của chúng là dùng xe mô-tô chở nhau, có khi mang theo cả hung khí gây sự rồi tẩu thoát, làm cho quần chúng lo lắng, bất bình, không an tâm sản xuất, cũng như sinh hoạt hằng ngày. Ðứng trước tình hình đó, anh Nguyễn Văn Răng, Bí thư chi bộ nói: "Muốn giải quyết nhanh là phải dựa vào dân, lấy sức mạnh của nhân dân tại chỗ để khống chế mới có hiệu quả". Vậy là "Tiếng mõ an ninh" ra đời. Anh Răng giải thích: "Sở dĩ gọi tiếng mõ an ninh, là vì dùng tiếng mõ để tập hợp lực lượng, kịp thời giúp đỡ những hộ gia đình đột xuất gặp chuyện không may như nhà cháy, điện giật, người té sông,... hoặc truy hô có trộm, cướp và trấn áp tinh thần kẻ có hành vi vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh trong xóm ấp".
Anh Ngô Văn Chiến, Trưởng ấp nói: "Trong ấp có một tổ chức nòng cốt gồm hội đồng bảo vệ an ninh trật tự, tổ nhân dân tự quản, các chi hội đoàn thể và lực lượng công an viên, dân quân, dân phòng. Mỗi hộ gia đình có một cái mõ bằng tre.
Tại địa điểm làm việc ấp cũng có một cái mõ hoặc kẻng, kích cỡ phải lớn hơn mõ của hộ dân. Quy ước là khi phát hiện trộm cắp hoặc băng nhóm có hung khí, đánh ba tiếng mõ, ngưng ba tiếng, rồi lại đánh tiếp ba tiếng, cứ vậy mà đánh cho đến khi lực lượng làm nhiệm vụ đến hiện trường. Trường hợp điện giật, đánh nhau đã gây thương tích thì đánh ba tiếng liên tục. Nhà cháy, người bị điện giật hoặc chết đuối, ngộ độc, đánh một hồi ba tiếng.
Nhờ vậy mà thời gian qua nhân dân đã ngăn chặn được nhiều vụ quấy rối của thanh niên xấu, bao vây truy bắt được nhiều đối tượng đã hoặc sắp gây án đồng thời tập hợp lực lượng kịp thời chữa cháy nhà và mía, bảo vệ được tài sản của nhân dân. Cũng nhờ tiếng mõ tre báo hiệu, nhiều người dân trong lao động, trong cuộc sống đã được bà con làng xóm cứu trợ trong lúc hoạn nạn.
Tiếng mõ Ðồng khởi năm xưa, nay vẫn còn phát huy tác dụng tích cực.