Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các khu chế xuất, khu công nghiệp

Công nhân công ty Paiho, Khu công nghiệp Tân Tạo, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh sản xuất dây giày xuất khẩu.
Công nhân công ty Paiho, Khu công nghiệp Tân Tạo, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh sản xuất dây giày xuất khẩu.

Trong hơn mười năm gần đây, các khu chế xuất, khu công nghiệp (KCX, KCN) phát triển khá mạnh ở nhiều địa phương. Riêng TP Hồ Chí Minh, có 15 KCX, KCN, thu hút hơn 225 nghìn lao động, trong đó, lao động nữ chiếm gần 65%. Ðây là khu vực vừa tạo ra của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết việc làm cho người lao động (NLÐ), góp phần vào sự nghiệp CNH, HÐH đất nước. Tuy nhiên, quyền lợi hợp pháp của lao động ở các KCX, KCN vẫn chưa được người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ. Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này và làm gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLÐ trong các KCX, KCN ?

Người lao động chịu nhiều thiệt thòi

Theo thống kê của Phòng Quản lý lao động, Ban Quản lý các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh, tính đến hết tháng 6-2007, số lao động trong các KCX, KCN đã được ký hợp đồng là 195.591 người, chiếm gần 86,9% tổng số lao động thực tế. Trong đó, các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91% và các DN hoạt động theo Luật DN (trong nước) đạt 74%.

Trưởng phòng Quản lý lao động, Ban Quản lý các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh Ðoàn Thị Thu Hà nhận xét: Các DN Nhật Bản và các tập đoàn lớn, có thương hiệu mạnh chấp hành khá tốt Luật Lao động. Ðiển hình là các DN trong các KCX: Tân Thuận (95,5%), Linh Trung 1 (94,87%) hoặc các KCN: Tân Tạo (85,77%), Tân Thới Hiệp (84,62%).

Tuy nhiên, còn không ít DN tuy sử dụng không nhiều lao động nhưng lại chấp hành Luật Lao động chưa đầy đủ và chưa nghiêm, như ở KCN Cát Lái 2, tỷ lệ NLÐ được ký hợp đồng chỉ đạt chưa đầy 45%. Một số KCN khác, số NLÐ chưa được ký hợp đồng chiếm tới 37%. Một số DN còn tìm cách kéo dài thời gian thử việc quá quy định, gây thiệt thòi cho NLÐ.

Phổ biến nhất là tình trạng người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động (HÐLÐ) với NLÐ theo mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định mà không theo thu nhập thực tế như hai bên đã thỏa thuận. Phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và mức lương ký trong hợp đồng được diễn giải bằng một loạt phụ cấp, trợ cấp với nhiều tên gọi, mức áp dụng, hình thức áp dụng khác nhau như: phụ cấp chuyên cần, phụ cấp hiệu quả công việc, phụ cấp vị trí công việc...

Cơ cấu tiền lương trong thu nhập thực tế của NLÐ còn bất cập, thu nhập của họ phụ thuộc nhiều vào tiền làm thêm giờ, phụ cấp, trợ cấp. Ðiều này buộc NLÐ luôn ở trong tình trạng phải làm thêm giờ mới có lương khá hơn. Một số DN còn chẻ nhỏ bậc lương nhiều tới mức mà một công nhân dù gắn bó suốt đời với DN cũng không bao giờ đạt tới bậc lương cao nhất.

Trên thực tế, thu nhập trung bình của một công nhân trong các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh là 1.850.000 đồng (đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài) và 1.400.000 đồng (đối với các DN trong nước). Nhưng, trong các HÐLÐ, tiền lương của NLÐ thường chỉ ở mức hơn 900.000 đồng (doanh nghiệp nước ngoài) hoặc chưa đầy 500.000 đồng (doanh nghiệp trong nước).

Nội dung HÐLÐ ở một số DN như: Công ty TNHH kỹ thuật Top Opto, Công ty TNHH New Hope... không tuân thủ quy định của pháp luật lao động hiện hành như: không ký kết đúng loại HÐLÐ, hình thức HÐLÐ, không ghi rõ các khoản phụ cấp. Nhiều DN ký HÐLÐ với NLÐ một cách hình thức, không ghi cụ thể và rõ ràng các điều khoản về chức danh công việc, mức lương, phụ cấp, số ngày nghỉ hằng năm...

Hiện tượng người sử dụng lao động không đưa cho NLÐ một bản hợp đồng sau khi hai bên đã ký, là khá phổ biến. Nhiều DN không cấp Sổ lao động cho NLÐ theo quy định. Nhiều DN tuy đã có tổ chức công đoàn, nhưng vẫn chưa có thỏa ước lao động tập thể như Công ty TNHH Gluen Truan. Một số công ty tuy đã ký kết thỏa ước nhưng nội dung rất hình thức, hầu như chỉ sao chép những quy định chung của pháp luật lao động với mục đích đối phó với cơ quan quản lý hoặc với các đối tác.

Chưa chấp hành nghiêm Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Về khách quan, do đặc thù lao động ở các KCX, KCN luôn biến động. Tình trạng NLÐ bỏ DN này sang làm cho DN khác hoặc bỏ về quê tìm việc khá phổ biến. Không ít DN cứ sau một kỳ nghỉ Tết cổ truyền là mất tới hàng nghìn công nhân, do đó DN phải tuyển lao động mới, dẫn tới việc có nhiều NLÐ chưa được ký HÐLÐ. Một số DN do đặc thù công việc, muốn tuyển được công nhân đạt tiêu chuẩn nên cố tình kéo dài thời gian thử việc.

Không ít DN lại tuyển công nhân theo thời vụ hoặc từng công việc cụ thể. Khi giải quyết xong công việc, họ cho công nhân nghỉ việc, lẩn tránh việc phải ký HÐLÐ với NLÐ. Nguyên nhân khác là trình độ hiểu biết pháp luật, quy định của Nhà nước về lao động của một số cán bộ trực tiếp làm công tác lao động, tiền lương, chế độ ở các DN còn yếu.

Ðồng thời do hiểu biết còn hạn chế nên không ít NLÐ thường chỉ quan tâm đến thu nhập thực tế chứ không chú ý tới các chế độ, chính sách, quyền lợi được pháp luật lao động bảo vệ. Trong khi đó, tổ chức công đoàn cơ sở ở các DN chưa đủ mạnh để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của công nhân.

Chủ tịch Công đoàn các KCX và KCN TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Khải cho biết: Trong số gần 1.000 DN hoạt động trong các KCX, KCN trên địa bàn thành phố chỉ có chưa đầy một nửa số DN có tổ chức công đoàn. Hơn nữa, cán bộ công đoàn ở những đơn vị này không phải là chuyên trách, mà chỉ là người làm công cho chủ DN. Vì thế, họ không thể mạnh dạn lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho công nhân.

Công nhân làm việc trong các nhà máy tại khu chế xuất
Tân Thuận TP Hồ Chí Minh chuẩn bị vào ca làm mới.

Theo chúng tôi, nguyên nhân chính là do người sử dụng lao động cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật. Nắm được tâm lý của NLÐ là rất muốn có việc làm, nhiều DN lờ đi việc ký HÐLÐ hoặc kéo dài thời gian thử việc. Trong trường hợp bắt buộc phải ký HÐLÐ, họ tìm cách ghi trong văn bản số lương tối thiểu.

Trưởng phòng lao động, tiền lương, tiền công Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Tô Thị Yến cho biết: Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho DN có vốn đầu tư nước ngoài là 870.000 đồng/tháng (ở nội thành Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) và 790.000 đồng/tháng (ở ngoại thành), cũng như mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho DN trong nước là 450.000 đồng/tháng.

Ðây là mức lương mà các DN thường lấy làm chuẩn để ký HÐLÐ, mặc dù trên thực tế hai bên đã thỏa thuận mức thu nhập hằng tháng cao hơn. Ðiều này có lợi nhiều cho DN, gây thiệt hại không nhỏ cho NLÐ. Trước mắt, người sử dụng lao động giảm được tiền bảo hiểm xã hội (BHXH) tính trên tỷ lệ tiền lương được ghi trong hợp đồng và khi cần họ có quyền giảm bớt thu nhập của NLÐ bằng cách cắt giảm hợp pháp các khoản phụ cấp. Như vậy, NLÐ bị "thiệt đơn, thiệt kép".

Họ vừa bị giảm thu nhập, vừa phải nhận lương thấp sau nhiều năm làm việc. Trong trường hợp rơi vào tình trạng mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động phải hưởng trợ cấp từ Quỹ BHXH thì thu nhập của họ rất thấp.

Quyền lợi của NLÐ còn bị xâm phạm ngay cả khi họ đã được ký HÐLÐ. Ðó là tình trạng một số DN đóng BHXH và bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc ít hơn số lao động đã được ký hợp đồng. Ðến khi có đoàn kiểm tra, thanh tra phát hiện ra thì những DN này mới chịu khắc phục.

Phó Giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh Bùi Ðức Tráng cho biết, tính đến nay, trên địa bàn thành phố còn 39 DN nợ BHXH và BHYT bắt buộc, với tổng số tiền hơn 39 tỷ đồng, trong đó, có bảy DN đóng trong các KCX, KCN. Nhiều DN nợ hàng tỷ đồng như Công ty TNHH Dae Yun Việt Nam (KCX Linh Trung) nợ gần 3,4 tỷ đồng từ tháng 1-2006, Công ty TNHH Yesum Vina (KCN Linh Trung 2) nợ 1,7 tỷ đồng từ tháng 1-2006, Công ty TNHH AMW Việt Nam (KCN Vĩnh Lộc) nợ 1,8 tỷ đồng từ tháng 10-2006, Công ty TNHH Astro Sài Gòn (KCN Linh Trung) nợ 1,3 tỷ đồng từ tháng 2-2007...

Bảo vệ quyền lợi của người lao động như thế nào?

Ðể bảo vệ quyền lợi của NLÐ, chúng tôi đề nghị, triển khai ngay một số công việc sau đây. Trước hết, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thường xuyên các DN trong việc chấp hành Luật Lao động và Luật BHXH. Tuy nhiên, cơ chế hiện nay còn nhiều bất cập. Chỉ có Ban Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có quyền kiểm tra, thanh tra về việc thực hiện Bộ Luật Lao động tại các DN trong KCX, KCN.

Hiện nay, BHXH thành phố là nơi thu BHXH và BHYT bắt buộc của các cơ quan, DN nên biết rất rõ nơi nào nộp thiếu, nộp chậm. Nhưng việc kiểm tra, xử phạt lại chỉ thuộc quyền của Ban Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Số cán bộ phụ trách vấn đề này ở Ban Thanh tra rất ít, trong khi toàn thành phố có tới 22.000 đơn vị với hơn 1,5 triệu người tham gia BHXH và BHYT bắt buộc. Mặt khác, cần điều chỉnh một số chế độ, chính sách của Nhà nước đã ban hành cho phù hợp hơn với thực tế và có lợi hơn cho NLÐ.

Phải có những chế tài thích đáng, đủ sức răn đe đối với những DN không chấp hành nghiêm Luật Lao động và Luật BHXH. Hiện nay, những DN bị phát hiện kéo dài thời gian thử việc hoặc không ký HÐLÐ cho NLÐ cũng chỉ bị nhắc nhở, chứ chưa bị xử phạt. Ðối với các DN bị phát hiện không nộp hoặc chậm nộp BHXH và BHYT bắt buộc, cơ quan chức năng cũng chỉ có quyền phạt cao nhất là 20 triệu đồng.

Các cơ quan chức năng như Ban quản lý các KCX, KCN, công đoàn các cấp liên quan cần giám sát chặt chẽ các DN trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quyền lợi của NLÐ. Bản thân NLÐ cũng cần có ý thức tìm hiểu Luật Lao động để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Khi người lao động tạm thời bị ngắt quãng thời gian làm việc hoặc chuyển sang cơ quan, đơn vị khác, thường không đề nghị được chứng nhận thời gian đã đóng BHXH trước đó.

Ðây cũng là một trong những nguyên nhân để các DN trì hoãn đóng tiền BHXH cho NLÐ. Vì thế, các tổ chức công đoàn cơ sở cần tuyên truyền, giáo dục cho công nhân hiểu hơn về Luật Lao động, Luật BHXH để vừa thực hiện tốt nghĩa vụ vừa biết đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Hiện nay, đời sống của NLÐ trong các KCX, KCN và trong các DN nằm ngoài khu vực này vẫn đang rất khó khăn. Các quyền lợi của họ đã được quy định trong các văn bản pháp luật, nếu được thực hiện nghiêm chỉnh, thì thu nhập thực tế của họ cũng chỉ đủ trang trải sinh hoạt hằng ngày và trả tiền thuê nhà.

Vì thế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLÐ không chỉ là nghĩa vụ của công đoàn và chính quyền các cấp, của các cơ quan chức năng, mà còn là trách nhiệm của chính những người sử dụng lao động. Ðây là nền tảng vững chắc bảo đảm cho các DN sản xuất, kinh doanh ổn định và là yếu tố quan trọng để nền kinh tế nước ta phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm