Hỏi: Việc bảo lãnh (lĩnh) bị can, bị cáo chưa thành niên được pháp luật tố tụng hình sự quy định như thế nào?
(Anh Tuấn, Quảng Ninh)
Trả lời: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo để thay thế biện pháp tạm giam.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, CQĐT, VKSND hoặc TAND có thể cho cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh bị can, bị cáo nói chung và bị can, bị cáo chưa thành niên nói riêng.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) hiện hành cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ nhưng với điều kiện ít nhất phải có hai người. Ví dụ: Cha mẹ có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là con chưa thành niên của mình, ông bà có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là cháu chưa thành niên của mình, anh chị có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là em chưa thành niên của mình... Tuy nhiên, pháp luật TTHS cũng đòi hỏi cá nhân nhận bảo lĩnh phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Ngoài ra, tổ chức cũng có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Đối với người chưa thành niên là đoàn viên thanh niên thì tổ chức Đoàn thanh niên có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình.
Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQĐT, VKSND hoặc TAND. Việc cá nhân nhận bảo lĩnh phải có giấy xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.
Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
...............................................
Thời gian làm việc của giáo viên trường dạy nghề
Hỏi: Xin cho biết quy định về thời gian làm việc của giáo viên trường dạy nghề?
Trả lời: Về thời gian làm việc của giáo viên trường dạy nghề, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã có Thông tư số 02/2002/TT-BLĐTBXH ngày 4-1-2002, trong đó xác định:
Thời gian làm việc của giáo viên dạy nghề 44 tuần/năm học, trong đó: giảng dạy 40 tuần; học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu khoa học 4 tuần.
Quỹ thời gian 40 tuần/năm học là thời gian giáo viên thực hiện các công việc sau: giảng dạy trên lớp, hoặc hướng dẫn thực hành; làm những công việc chuẩn bị trước, sau khi giảng dạy (nghiên cứu giáo trình và các tài liệu giảng dạy; soạn giáo án; chấm bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ; sinh hoạt chuyên môn; dự lớp, trao đổi nghiệp vụ; chuẩn bị mô hình, học cụ, phương tiện giảng dạy) và thực hiện những nhiệm vụ khác theo tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức - viên chức đối với giáo viên dạy nghề theo quy định của Nhà nước.
Quỹ thời gian 4 tuần/năm học dành cho giáo viên học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu khoa học, thời gian học tập nếu có yêu cầu dài hơn sẽ lấy ở quỹ thời gian giảng dạy (40 tuần) chuyển sang thời gian học tập; trường hợp giáo viên không sử dụng hết 4 tuần để học tập nâng cao trình độ thì thời gian còn lại sẽ chuyển sang làm công tác giảng dạy.
...............................................
Mua lại nhà tập thể có được đền bù tái định cư?
Hỏi: Năm 2002, gia đình tôi mua nhà của một gia đình trong khu tập thể cơ quan được hình thành từ năm 1992. Nay chúng tôi được thông báo về quy hoạch xây dựng khu đô thị ở đây và nằm trong diện bị thu hồi đất. Xin hỏi chúng tôi có được bố trí tái định cư không (gia đình tôi không còn chỗ ở nào khác)
(Lê Hoàng Lan, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm)
Trả lời: Vấn đề bà hỏi được quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 7-12-2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP. Theo đó, trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường, mà sau khi thu hồi không còn chỗ ở nào khác thì UBND cấp tỉnh xem xét giao đất ở mới (đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn); xem xét giao đất ở mới, cho mua nhà hoặc thuê nhà (đối với hộ gia đình, cá nhân ở đô thị) cho phù hợp với thực tế tại địa phương; người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền thuê nhà, mua nhà, nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 điều 9 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ban hành kèm theo Quyết định số 29/2005/QĐ-UB ngày 18-2-2005 của UBND thành phố Hà Nội đối với người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà không thuộc đối tượng được bồi thường đất, nếu di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác thì được xem xét bố trí tái định cư theo các quy định tại phần D, chương II của quy định này.
Như vậy, nếu bạn không thuộc đối tượng được bồi thường về đất, nhưng có xác nhận của chính quyền địa phương là không còn chỗ ở nào khác thì sẽ được xem xét bố trí tái định cư theo chính sách tái định cư chung khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án.
...............................................
Quy trình và chi phí đăng ký nhãn hiệu hàng hóa
Hỏi: Xin cho biết toàn bộ quá trình từ nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đến cấp giấy chứng nhận gồm những khâu nào và chi phí ra sao ?
Trả lời: Để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (NHHH), đơn nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) phải trải qua các giai đoạn theo trình tự sau.
Thẩm định hình thức: theo Luật SHTT, giai đoạn này được quy định là 1 tháng kể từ ngày nộp đơn. Mục đích của việc thẩm định hình thức là đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay không hợp lệ thông qua kiểm tra việc chấp hành các quy định về hình thức đối với đơn. Nếu đơn được coi là hợp lệ, người nộp đơn sẽ được Cục SHTT gửi thông báo chấp nhận đơn hợp lệ. Nếu đơn bị coi là không hợp lệ, người nộp đơn sẽ nhận được thông báo thiếu sót của đơn trong đó nêu rõ những lý do khiến đơn bị coi là không hợp lệ.
Công bố đơn: các đơn được công nhận là hợp lệ được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp (tập A) do Cục SHTT ấn hành hằng tháng để thông báo nhãn hiệu đã có người nộp đơn. Sau khi công bố đơn, bất cứ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp giấy chứng nhận đăng ký NHHH cho người nộp đơn.
Thẩm định nội dung: giai đoạn này được quy định là 9 tháng kể từ ngày ký thông báo chấp nhận đơn hợp lệ và được tiến hành với tất cả các đơn đã được công bố. Mục đích của việc thẩm định nội dung là đưa ra kết luận nhãn hiệu xin đăng ký đáp ứng hay không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo quy định của luật pháp. Trong quá trình thẩm định nội dung đơn, Cục SHTT phải xem xét các ý kiến phản đối việc cấp giấy chứng nhận đăng ký NHHH của người thứ ba và thông báo cho người này biết ý kiến phản đối có được chấp thuận hay không. Kết quả thẩm định nội dung đơn được thông báo cho người nộp đơn bằng thông báo kết quả thẩm định nội dung trong đó nêu rõ nhãn hiệu có đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ hay không. Nếu có, trong thời gian đã ấn định, người nộp đơn phải nộp lệ phí cấp, đăng bạ và công bố giấy chứng nhận đăng ký NHHH.
Công bố giấy chứng nhận đăng ký NHHH: Các giấy chứng nhận đăng ký NHHH đã cấp đều được công bố trong tháng thứ hai kể từ ngày ra quyết định cấp trên Công báo Sở hữu công nghiệp (tập B) do Cục SHTT ấn hành hằng tháng.
Theo quy định hiện hành, tổng cộng các khoản phí, lệ phí mà người nộp đơn phải nộp cho tất cả các giai đoạn nêu trên là 850.000 đồng. Trường hợp đơn có thiếu sót về hình thức cần phải sửa chữa hoặc có khiếu nại liên quan đến nội dung thì chi phí này có thể sẽ tăng thêm.
...............................................
Hỏi: Chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp mới thành lập được quy định như thế nào?
Trả lời: Ngày 1-1-2004, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực thi hành với các ưu đãi nhiều hơn trước đây. Theo đó, tùy thuộc vào lĩnh vực ngành nghề, địa bàn thực hiện dự án đầu tư, số lượng lao động mà dự án đó giải quyết được... mà các cơ sở mới thành lập từ dự án đầu tư thoả mãn các điều kiện quy định tại Điều 33, Điều 34 Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22-12-2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đều được hưởng ưu đãi thuế như sau:
- Được áp dụng thuế suất ưu đãi là 20%, 15% hoặc 10% trong thời gian 10 năm, 12 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh.
- Được miễn thuế TNDN tối đa đến 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% thuế đến 9 năm tiếp theo.
Mức cụ thể về thuế suất, thời hạn áp dụng thuế suất ưu đãi và miễn, giảm thuế tuỳ thuộc vào điều kiện mà dự án đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh mới hoạt động đó đạt được.