Báo động quanh phiên bản cột chùa Dạm mới ở BTMT

Cột chùa Dạm cũ
Cột chùa Dạm cũ

Nặng nề và thô bạo, phiên bản cột chùa Dạm bằng đá mới giống như cú đánh cuối cùng vào lòng tự trọng nghề nghiệp của một số nhà chuyên môn chân chính ở bảo tàng, đó là lý do để họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp viết đơn xin thôi việc.

Ngoài cương vị là Phó Giám đốc, ông còn là Giám đốc của Trung tâm bảo quản –tu sửa tác phẩm mỹ thuật, Thư ký Hội đồng Khoa học (thời còn Hội đồng Khoa học), Chủ tịch công đoàn ... Làm việc ở đây từ năm 1981, hơn 25 năm gắn bó với Bảo tàng, quyết định xin thôi việc của ông chắc chắn là một quyết định rất khó khăn. Nhưng không làm khác được, Nguyễn Xuân Tiệp thốt lên đầy đau đớn “Thực tình trong ngần ấy năm công tác, tôi chưa bao giờ gặp phải một cán bộ làm công tác quản lý lại liều lĩnh và coi thường các nguyên tắc tổ chức như ông giám đốc Trương Quốc Bình…”

Từ Cục Bảo vệ Di sản của Bộ Văn hoá Thông tin, năm 2003, ông Trương Quốc Bình về nhận cương vị Giám đốc BTMT Việt Nam, thay cho giám đốc cũ, hoạ sĩ Cao Trọng Thiềm, đến tuổi nghỉ hưu. Trong suốt những đời giám đốc của Bảo tàng, từ hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, hoạ sĩ Nguyễn Văn Y, hoạ sĩ Trần Đình Thọ, hoạ sĩ Vương Như Chiêm, hoạ sĩ Nguyễn Văn Chung… đến hoạ sĩ Cao Trọng Thiềm, tất cả đều là hoạ sĩ nổi tiếng hoặc nhà nghiên cứu uyên bác, đây là lần đầu tiên một người làm giám đốc bảo tàng mỹ thuật mà sự nghiệp hoạt động trước đó không liên quan gì đến mỹ thuật.

Nếu coi ông giám đốc Trương Quốc Bình, vốn làm công tác bảo tồn  bảo tàng và tu bổ di tích, áp dụng nghề nghiệp không thuận lắm của mình tại Bảo tàng Mỹ thuật  thì cũng không phải nói quá. Ông nhìn nhận công tác bảo tàng như công tác trùng tu, với một quan niệm khá sai lầm giống như một số người làm công tác trùng tu di tích ở nước ta, là có thể làm mới di tích vô tội vạ. Dấu ấn của một cán bộ làm công tác bảo tồn di tích thể hiện rõ trong các hoạt động của ông, và đó có thể xem như những sai lầm về quan niệm. Giá chỉ là một vài việc nhỏ lẻ mang màu sắc tu sửa đình chùa, kiểu như đặt một hòm công đức bằng kính trong veo trên tầng 2, đựng tiền lẻ, ngay phòng Mỹ thuật Kháng chiến 1945-1954 để kêu gọi hảo tâm của người xem trong việc tu bổ tác phẩm nghệ thuật- trong khi Nhà nước vốn rất quan tâm đến việc này- hoặc kêu gọi hoạ sĩ đóng góp tranh cho bảo tàng, nơi những tác phẩm được trưng bày bao giờ cũng cần phải thông qua một Hội đồng tư vấn nghệ thuật chọn lọc kỹ, thì cùng lắm chỉ làm người ta ngường ngượng một chút. Bảo tàng không phải là chỗ thu gom tác phẩm mà trước hết là nơi lưu giữ, trưng bày dòng chảy các giá trị văn hoá, nghệ thuật của dân tộc được thể hiện ở đỉnh cao. Nhưng việc khước từ một Hội đồng Khoa học cần thiết phải có đã là căn nguyên đưa đến hàng loạt công việc sai lầm về quan niệm như vậy.

Những gì diễn ra tại BTMT Việt Nam dồn dập và mạnh mẽ trong thời gian qua, có lúc làm người ngoài tưởng rằng một công cuộc đổi mới năng động và tích cực đang diễn ra ở đây, thực chất chỉ là những hoạt động bề ngoài, không mấy làm lợi về chuyên môn cho bảo tàng ...Hơn bốn năm qua, Bảo tàng Mỹ thuật liên tục được làm mới. Đã có đến hơn 10 dự án , trong đó có những dự án quan trọng, chẳng hạn  cải tạo mặt tiền nhà trưng bày B - cơ sở 66 Nguyễn Thái Học. Việc cải tạo mặt tiền toà nhà B, được xây dựng trong giai đoạn cố hoạ sĩ Nguyễn văn Y làm giám đốc.

 
Cột chùa Dạm cũ

Thời hoạ sĩ Cao Trọng Thiềm làm giám đốc, việc cải tạo tòa nhà này đã nhiều lần được đặt ra, với một lý do quan trọng là nếu cải tạo không khéo, nhà B sẽ làm hỏng nhà A - một công trình kiến trúc đẹp vào loại nhất Hà Nội, xây vào những năm 1962-1963, rất hài hoà giữa kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại. Công bằng mà nói, giám đốc Trương Quốc Bình cũng đã có bàn với ban Giám đốc về chủ trương cải tạo, ba phó giám đốc gồm hoạ sĩ Nguyễn Xuân Tiệp, nhà điêu khắc Phan Văn Tiến (Bí thư chi bộ bảo tàng), hoạ sĩ Nguyễn Bình Minh cũng đã xem và tham gia ý kiến vào một bản vẽ do giám đốc đưa ra.

Công tác cải tạo nhà B được tiến hành từ cuối năm 2006 đến 4-2007, suốt thời gian đó các Phó Giám đốc chẳng còn biết hơn gì nữa, từ tờ trình dự toán, kinh phí và nhất là bản thiết kế - cái mà ba phó giám đốc quan tâm nhất -  đều không được nhắc lại dù chỉ một lần. Và cuối cùng, mặt tiền nhà B cải tạo xong, không đạt chất lượng chuyên môn, cấu trúc hình thể mất cân đối, sai tỷ lệ, các họạ tiết chi tiết lắp ghép lủng củng… cộng thêm một dãy đèn chiếu sáng màu đen kịt chạy ngang mặt tiền cả hai dãy nhà, gây phản cảm về mặt thị giác.

Không chỉ thế, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật còn đề nghị Bộ VH-TT cho phép xây dựng hội trường và nơi làm việc của một số phòng ban trong cơ quan. Cũng y hệt như việc cải tạo nhà B, ba Phó Giám đốc được thông báo chủ trương, được đóng góp cho một bản vẽ (mà khi xây lên không phải bản vẽ mình đã đóng góp ý kiến), và cũng chẳng biết gì thêm cho đến khi nghiệm thu công trình, đến lúc ấy mới được nghe rằng tổng giá trị gói thầu đâu là 2,5 tỷ triệu đồng. Còn nhà C với vỏ ngoài kiến trúc khập khiễng kéo dài tới tận ngoài bằng mặt tiền nhà A, bịt chặt mọi khoảng đất, chẳng còn không gian giữa những ngôi nhà. Muốn vào bảo tàng chỉ còn có mặt tiền. Viện bảo tàng lại đồng ý cho thuê sân thành chỗ đỗ xe ô-tô, hầu như lúc nào cũng kín xe, ban ngày 10-15 chiếc, ban đêm 30 chiếc đỗ bao quanh sân vườn. Rủi xảy ra hoả hoạn chắc chắn xe cứu hỏa không thể vào được đến nơi để chữa cháy- điều tối kỵ trong việc xây bảo tàng, nhất là với một bảo tàng lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật quý. Rất nhiều vụ việc cứ liên tục xảy ra, tất cả các dự án khác cũng rất quan trọng như dự án hệ thống chiếu sáng hiện vật nội thất và ngoại thất sân vườn năm 2006, dự án đầu tư trang thiết bị khoa học- công nghệ cao phục vụ công tác chuyên môn của BTMT Việt Nam trị giá hàng chục tỷ đồng, ngoài ra còn các dự án trang thiết bị chuyên môn- giá kệ cho hiện vật, cửa kính bảo vệ hệ thống trưng bày, camera bảo vệ an ninh, thang máy, máy phát điện…các phó giám đốc chẳng được bàn bạc gì, tất cả đều là nghe đâu... Không bàn bạc, không biết dự toán, không biết kinh phí…Điệp khúc ấy lặp lại nhiều lần. Ngày 19-7 gần đây nhất, trong cuộc họp về chuyện xin thôi việc của Phó giám đốc Nguyễn Xuân Tiệp, ông Bình nói một câu xanh rờn thế này về quyền hạn của các phó giám đốc “…  về nguyên tắc quản lý chi tiêu tài chính, ở nơi khác, các phó giám đốc còn không biết chủ trương cơ, ở đây biết chủ trương đã là may lắm rồi…”. Nói về cái “may” ấy, Phó giám đốc Phan Văn Tiến cho biết:  “Cũng có khi được hỏi ý kiến về một vài vấn đề chuyên môn, chẳng hạn tôi đã từng đóng góp ý kiến cho giám đốc về chuyện chuyển sang chất liệu composit  các vị La Hán …, có góp ý thì giám đốc cũng chỉ nghe với một thái độ không vui lắm, còn những dự án quan trọng thì giám đốc không hỏi. Việc chuyển chất liệu cột Chùa Dạm tất nhiên là không…”

Thay chất liệu là chuyện đã được bàn, nhưng đây là một công việc đòi hỏi nhiều công đoạn và kiến thức chuyên môn. Chỉ cần hỏi ý kiến một trong ba Phó giám đốc bảo tàng thôi là đã không thể có chuyện cột Chùa Dạm trông như vậy. Ai cũng biết thế. Cái cột mới, nếu không đem đi chỗ khác như yêu cầu của một số nhà nghiên cứu lão thành đầy tâm huyết, gần đây phát biểu trên nhiều báo như hoạ sĩ Trần Thức hay nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hải Yến, mà cứ tồn tại khơi khơi trong sân bảo tàng sẽ là một nỗi xấu hổ cho những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.

Nhưng các phó giám đốc giờ chỉ còn có thể rưng rưng mà nhớ lại, chứ không thể làm gì hơn nữa. Nó đã từng nằm đấy, phía trái cổng bảo tàng trong suốt bao nhiêu năm, cây vẩy cá leo lên bệ cột và rêu phủ lên nó như thể quá khứ bao bọc nó, nó thân thương với những người ở bảo tàng đã đành, nó thân thương cả với những ai từng đến đây, từng tự hào về nghệ thuật điêu khắc của cha ông. Phiên bản mới làm mất bao nhiêu tiền không ai biết, phiên bản cũ nằm ở đâu cũng không ai biết, ngoài người chỉ đạo việc thay chất liệu  là ông Trương Quốc Bình, điều đó mới thật đáng buồn. Phiên bản mẫu bằng xi măng đã từng được đánh giá là giả đến 90% so với bản gốc. Những người thực hiện, nhà điêu khắc Lê Liên hay nghệ sĩ Lê Tiến Phương, đều đã trút tâm sức và tài hoa của mình vào phiên bản này. Một kiến trúc thời Lý hiếm hoi còn sót lại, được làm bằng phương pháp tạo khuôn từ nguyên mẫu. Cũng cần nói thêm là nguyên mẫu ở chùa Dạm, Quế Võ, Bắc Ninh hiện nay cũng đã bị biến dạng do bị tu sửa sai và bị tàn phá khá nhiều bởi thời gian, nên việc làm lại một phiên bản như phiên bản cũ là điều không thể nữa. Phiên bản cũ thể hiện đúng hình tượng rồng thời Lý (thế kỷ XI-XII), rất đặc trưng, thân nhỏ, vảy mờ, nét điêu khắc đá mềm mại, uốn lượn, bay bổng. Con rồng mới ở cột chùa Dạm mới bị lui lại từ 2 đến 3 thế kỷ sau, cuối Trần đầu Lê sơ, thân mập, vảy nổi như cá chép, méo mó sai lạc và nặng tính trang trí như một món đồ mỹ nghệ với kích thước lớn. Chỉ còn khoảng 15% so với nguyên mẫu. Sai lịch sử mỹ thuật đã đành. Nhưng nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Hải Yến nói rằng, đừng bảo nó là rồng thời Trần mà tội, rồng thời Trần cũng không tệ đến thế. Thế hệ mai sau, những người chưa biết đến cột chùa Dạm, chắc chắn sẽ nhầm lẫn khi cảm nhận về một hiện vật đã từng được xếp là điển hình nghệ thuật thời Lý, đó là điều lo lắng nhất của bà.

“Chỉ cần hỏi một trong ba phó giám đốc thôi là sẽ không có cái cột chùa Dạm đó”, câu nói trên được hoạ sĩ Nguyễn Xuân Tiệp nhắc đi nhắc lại đầy đau xót. Ba phó giám đốc không được hỏi ý kiến, còn Hội đồng Khoa học ở BTMT Việt Nam đã không còn nữa kể từ ngày giám đốc Bình về. Không bảo tàng nào không có HĐKH, BT Hồ Chí Minh có 13 thành viên, BTCM Việt Nam có 14 thành viên, BT LSQĐ có 11 thành viên…Việc BTMT Việt Nam, cơ quan nghiên cứu và bảo tồn các giá trị di sản văn hoá hàng đầu của quốc gia không có  thành viên nào trong Hội đồng Khoa học suốt bốn năm qua đúng là chuyện lạ nhưng có thật. Trong năm 2003, khi ông Trương Quốc Bình mới nhậm chức, hoạ sĩ Nguyễn Xuân Tiệp đã không ít hơn 7,8 lần đề nghị kiện toàn tổ chức HĐKH của BTMT để tư vấn và giúp cho hoạt động chuyên môn của Ban Giám đốc, bởi trên thực tế, HĐKH của Bảo tàng lúc ấy chỉ còn có bốn người, gồm ba phó giám đốc và hoạ sĩ Đặng Thế Minh, trưởng phòng Trưng bày và tuyên truyền sắp nghỉ hưu. Các phó giám đốc khác, Phan Văn Tiến, Nguyễn Bình Minh và Đặng Thị Hồng Thịnh, nguyên trưởng phòng Kiểm kê bảo quản, đã nghỉ hưu năm 2005, cũng nhiều lần nêu ý kiến cấp thiết về việc này, HĐKH trong các nhiệm kỳ giám đốc trước của BTMT thường có 9 đến 14 thành viên. Câu trả lời cuối cùng từ ông Bình về việc này với hoạ sĩ Nguyễn Xuân Tiệp là “HĐKH chỉ cần tôi với ông là đủ” (!) Trên thực tế, lẽ ra ông Bình nên nói "chỉ mình tôi là đủ". Ông đã tự mình quyết định tất cả. Đó là lý do để những cán bộ có năng lực, có tâm huyết tại Bảo tàng nghĩ đến chuyện ra đi. Nguyễn Xuân Tiệp chỉ là người thứ chín trong bốn năm vừa rồi. Chín người, nghĩa là gần 1/6 CBCNV của Bảo tàng. Chưa chắc phó giám đốc Nguyễn Xuân Tiệp đã là người cuối cùng xin thôi việc. Cũng như phiên bản lệch lạc Cột chùa  Dạm,  chưa chắc là phiên bản cuối cùng ở bảo tàng được thực hiện theo cung cách ấy. Như vậy đã đáng báo động chưa với ông giám đốc làm mà không cần hỏi ai? Điều đó chỉ ông mới trả lời được.

Có thể bạn quan tâm