Ðể tìm hiểu vấn đề này, phóng viên báo Nhân Dân đã phỏng vấn đồng chí Nguyễn Đình Ninh, Phó cục trưởng Cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau đây là nội dung phỏng vấn.
Phóng viên (PV): Theo dự báo của Trung tâm dự báo Khí tượng - Thủy văn T.Ư, các tháng tới, lượng mưa và lượng dòng chảy trên phạm vi cả nước tiếp tục thiếu hụt. Xin đồng chí cho biết thực trạng nguồn nước hiện nay và nếu thời tiết đúng như dự báo, thì sẽ gây khó khăn như thế nào đối với vụ đông xuân năm nay?
Ông Nguyễn Ðình Ninh: Hiện tượng En-ni-nô ảnh hưởng đến nước ta từ những tháng cuối năm 2006, theo đó mùa mưa kết thúc sớm hơn bình thường từ một đến một tháng rưỡi, dòng chảy trên các sông suối tự nhiên giảm nhanh, ở mức thấp và trữ lượng nước trong các hồ chứa ở nhiều khu vực không đạt mức thiết kế. Hạn hán đã được cảnh báo xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng sản xuất và đời sống nhân dân.
Hiện nay, trên các sông, suối, mực nước và lượng sinh thủy giảm dần, điển hình ở một số khu vực, như hệ thống sông Hồng - Thái Bình, lượng sinh thủy trên các dòng chính thiếu hụt 15 - 20% so với trung bình nhiều năm (TBNN). Các sông,
suối nhỏ ở khu vực Sơn La, Hòa Bình... lượng nước còn hụt hơn, thậm chí những suối nhỏ hầu như không còn dòng chảy. Nếu thời gian tới trời không mưa và theo dự kiến của Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN), lượng điều tiết nước về hạ du của các hồ thủy điện trung bình ngày 600 - 700 m3/giây, dẫn đến khả năng có nhiều thời điểm mực nước Hà Nội sẽ tiếp tục ở mức thấp nhất trong hàng trăm năm qua.
Các sông, suối ở khu vực Thanh Hóa - Nghệ An, mức nước và lượng sinh thủy tương tự khu vực sông Hồng - Thái Bình, một số sông có mực nước thấp hơn cùng kỳ các năm trước 15 - 30 cm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bơm tưới.
Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thời điểm này chưa phải là những tháng cuối mùa khô, mặc dù mực nước và lượng sinh thủy có giảm, nhưng cơ bản vẫn đủ nguồn nước cấp cho các trạm bơm hoạt động (sông Côn, Bình Ðịnh hiện còn 20 m3/giây so với 25 - 30 m3/giây của những năm bình thường). Tuy nhiên, các sông suối nhỏ ở khu vực Bình Ðịnh, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận giảm nhanh, lượng dòng chảy chỉ còn bằng 60% so TBNN. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, mức nước sông Tiền cao nhất tại Tân Châu dao động từ 1,3 đến 0,92 m, sông Hậu tại Châu Ðốc từ 1,3 đến 0,87 m, xấp xỉ cùng kỳ năm 2006 hoặc thấp hơn một ít. Trong các kênh rạch nội đồng, nhất là vùng sâu, vùng xa, thấp hơn cùng kỳ khoảng 20 cm, làm cho mặn lấn sâu vào đất liền, tại sông Vàm Cỏ đã vào sâu 65 km, các nhánh của sông Cửu Long vào sâu khoảng 40 km.
Nguồn nước ở các hồ chứa thủy lợi vừa và lớn cũng đang cạn kiệt. Ðến ngày 20-2, qua theo dõi mức nước và dung tích của 61 hồ chứa cho thấy, có 33 hồ dung tích còn hơn 70% mức thiết kế, 14 hồ từ 50 đến 70%, còn lại 14 hồ có dung tích dưới 50% thiết kế. Hai hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, sau các đợt tăng phát điện để lấy nước đổ ải cho đồng bằng sông Hồng, mực nước giảm nhanh. Lúc 7 giờ ngày 27-2, hồ Hòa Bình 110,33 m (cùng kỳ 2006 là 111,91 m), hồ Thác Bà 54,78 m (cùng kỳ 2006 là 56,28 m), hồ Tuyên Quang đã xả hết nước để tiếp tục thi công.
Như vậy, nếu trời không mưa, tình trạng nguồn nước như hiện nay, trong những tháng tới hạn hán có thể xảy ra, trọng điểm là các khu vực sau: Vùng Tây Bắc: tỉnh Sơn La, Hòa Bình vùng tưới bằng hồ nhỏ, đập tạm bị thiếu nước tưới, nhất là vùng trồng ngô. Vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ: khó khăn nước vào giai đoạn tưới dưỡng, nhất là thời kỳ cuối vụ xuân 2007 (thời điểm này mực nước, dung tích hồ suy giảm, nguồn nước sông, suối tự nhiên thấp, mặn xâm nhập sâu...): Vùng Nam Trung Bộ: Từ nam Quảng Ngãi đến Khánh Hòa mùa mưa kết thúc sớm và lượng ít, cho nên bước vào sản xuất vụ đông xuân 2006 - 2007 các địa phương đã phải cân đối nguồn nước và xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp. Tuy nhiên, các hồ chứa trữ thấp, khả năng điều tiết kém, cho nên cần đề phòng hạn xảy ra vào cuối vụ đông xuân và đầu vụ hè thu 2007. Ở khu vực hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, do thiếu nguồn nước, hai tỉnh này đã giảm diện tích ngay từ vụ đông xuân (Ninh Thuận giảm ba, bốn nghìn ha...), hồ Tân Giang không cấp nước tưới, chỉ cấp nước sinh hoạt. Trong điều kiện hồ Ða Nhim, Ða Mi - Hàm Thuận bổ sung nước cho hạ du, hai tỉnh này vẫn có khả năng bị hạn, cần tập trung triển khai mạnh các giải pháp phòng, chống hạn hán.
Tại khu vực Tây Nguyên, theo báo cáo của các địa phương, nguồn nước hiện tại có thể bảo đảm tưới cho các loại cây trồng.
PV: Theo như dự báo, khả năng hạn hán sẽ xảy ra vào giữa và cuối vụ đông xuân, vậy đồng chí cho biết những giải pháp chủ yếu để phòng, chống hạn, giảm nhẹ thiệt hại?
Ông Nguyễn Ðình Ninh: Trước ảnh hưởng của hiện tượng En - ni-nô, để phòng, chống hạn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống, các giải pháp chính tiếp tục cần được thực hiện như sau:
- Kiểm tra các công trình thủy lợi, nhất là hồ chứa, cống, trạm bơm và sửa chữa ngay hư hỏng, chống mất nước; tập trung nạo vét kênh dẫn, cửa lấy nước, bể hút trạm bơm, kênh mương các cấp và phát động phong trào ra quân làm thủy lợi nội đồng, bảo đảm thông nước tới mặt ruộng.
- Ðánh giá và theo dõi nguồn nước ở các sông, suối, hồ, đầm, ao, công trình thủy lợi và nước ngầm để bố trí cơ cấu sản xuất, mùa vụ hợp lý và ưu tiên nước cho sinh hoạt và chăn nuôi. Quản lý chặt chẽ nguồn nước, chống rò rỉ, thất thoát nước của các hồ chứa.
- Xây dựng phương án phòng, chống hạn, có kế hoạch bổ sung các trạm bơm dã chiến để cấp nước khi cần thiết; tổ chức kiểm tra đồng ruộng, lập lịch tưới luân phiên, áp dụng tưới tiết tiệm nước phù hợp thực tế.
- Phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam để khai thác hiệu quả nhất các hồ chứa thủy điện trong cả nước, hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
- Quản lý chặt chẽ nguồn nước từ các hồ chứa đến hệ thống kênh mương, trữ nước tối đa vào các sông cụt, hồ, đầm và đặc biệt quản lý nước tưới trên mặt ruộng, chống rò rỉ, mất nước.
- Những diện tích không đủ nguồn nước tưới suốt vụ, phải chuyển đổi sang trồng cây trồng cạn sử dụng ít nước nhằm bảo đảm hiệu quả sản xuất.
- Triển khai các giải pháp cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, nhất là vùng núi cao, vùng sâu, vùng ven biển.
PV: Theo ngành điện lực, năm tới, hồ Tuyên Quang sẽ phát điện, việc điều tiết nước cho sản xuất đông xuân sẽ không được như vụ xuân 2007. Xin đồng chí cho biết giải pháp lâu dài để bảo đảm đủ nước tưới cho sản xuất vụ đông xuân tới?
Ông Nguyễn Ðình Ninh: Năm 2006, hồ Tuyên Quang tích được khoảng 1,4 tỷ m3 nước, do đó trong vụ xuân 2007, trong các đợt điều tiết, xả nước hồ này góp phần rất lớn vào việc nâng cao mực nước hạ du sông Hồng. Khi hồ Tuyên Quang bắt đầu phát điện, lượng nước phát điện sẽ phụ thuộc biểu đồ phụ tải, không như lượng nước xả trong vụ xuân 2007. Ðể bảo đảm nguồn nước sản xuất vụ đông xuân, nhất là giai đoạn làm đất gieo cấy, trong năm tới, cần thực hiện một số nội dung sau:
- Xây dựng và phê duyệt quy trình vận hành liên hồ, nhất là vận hành trong mùa kiệt, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông thủy... hạn chế tranh chấp nguồn nước.
- Tăng cường nạo vét các cửa khẩu lấy nước, các đoạn sông trục, kênh dẫn và làm thủy lợi nội đồng, bảo đảm dẫn nước thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng.
- Chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở những vùng khó khăn nguồn nước.
- Áp dụng công nghệ, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng.
Về lâu dài, cần nhanh chóng lập quy hoạch tổng thể nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi trên toàn vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Xây dựng chiến lược phát triển thủy lợi đến năm 2020, để quản lý nguồn nước các lưu vực sông, khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước và phòng, chống thiên tai, bão, lũ hiệu quả.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!