Các hồ chứa thủy lợi không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt mà còn là “lá chắn” cắt lũ, điều tiết dòng chảy bảo vệ tài sản, tính mạng người dân vùng hạ du mỗi khi xảy ra mưa, lũ cực đoan. Tuy nhiên, hệ thống hồ chứa thủy lợi hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục, nhất là sau những đợt mưa, lũ năm 2025.
Trưởng Phòng An toàn hồ đập và hồ chứa nước (Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Phan Tiến An cho biết, hiện cả nước có khoảng 7.315 đập, hồ chứa thủy lợi, trong đó có 592 đập dâng với chiều cao hơn 5m và 6.723 hồ chứa. Tổng dung tích trữ khoảng 15 tỷ m³, tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp và cấp khoảng 1,5 tỷ m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác. Không thể phủ nhận, diễn biến thời tiết hiện nay ngày càng cực đoan, khó lường ảnh hưởng đến quản lý, vận hành hồ chứa thủy lợi. Thực tế, các hồ chứa đang bộc lộ nhiều tồn tại, nguy cơ mất an toàn công trình và vùng hạ du.
Theo thống kê trước mùa mưa, lũ năm 2025 cho thấy, chỉ 19% hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng; 11% hồ cắm mốc phạm vi bảo vệ; 9% hồ được kiểm định an toàn đập; 30% hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp; 411 hồ chứa có bản đồ ngập lụt hạ du (dữ liệu quan trọng cho hệ thống cảnh báo sớm).
Theo thống kê trước mùa mưa, lũ năm 2025 cho thấy, chỉ 19% hồ lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng; 11% hồ cắm mốc phạm vi bảo vệ; 9% hồ được kiểm định an toàn đập; 30% hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp; 411 hồ chứa có bản đồ ngập lụt hạ du (dữ liệu quan trọng cho hệ thống cảnh báo sớm). Hơn nữa, thách thức lớn nhất hiện nay là thiếu dữ liệu kỹ thuật đầy đủ và hệ thống công nghệ đồng bộ. Trong đó, cơ sở dữ liệu hồ chứa của Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xây dựng từ năm 2016 nhưng mới khoảng 900 hồ có thông số đầy đủ. Hầu hết các địa phương vẫn quản lý thủ công bằng excel hoặc tài liệu rời rạc; dữ liệu không được cập nhật, không liên thông khiến việc tổng hợp phục vụ chỉ đạo gặp rất nhiều khó khăn.
Hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng còn thiếu và lạc hậu; nhiều hồ thiếu trạm quan trắc mưa trên toàn lưu vực, số liệu không ổn định. Trong khi đó, mưa, lũ những năm gần đây diễn biến trái quy luật, bão xuất hiện dồn dập; không gian thoát lũ bị thu hẹp bởi đô thị hóa nhanh, hạ tầng tiêu thoát chưa theo kịp; hồ thủy điện và thủy lợi chia sẻ dữ liệu hạn chế, chưa có cơ chế điều phối thống nhất theo lưu vực; nguồn lực đầu tư hạn chế, mới đáp ứng khoảng 11,8% nhu cầu bảo trì và chủ yếu dùng để sửa chữa, không có kinh phí cho công nghệ.
Mặt khác, chưa có tiêu chuẩn thống nhất về cơ sở dữ liệu, phần mềm an toàn đập, quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dụng, vận hành hồ chứa theo diễn biến thực tế dẫn đến tình trạng mỗi địa phương phát triển riêng lẻ, không tương thích. Hiện nay, chưa có quy chế phối hợp thống nhất giữa các địa phương trong cùng lưu vực; mỗi hồ vận hành theo quy trình riêng, trong khi chưa có cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm điều phối chung khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Hiện có khoảng 100 hồ chứa lớn có cửa van được lắp đặt thiết bị quan trắc mưa tự động và xây dựng phần mềm quản lý giám sát dự báo lũ cho đơn hồ chứa. Tuy nhiên, hệ thống quan trắc mưa tự động được đơn vị quản lý khai thác tự trang bị, không đáp ứng về số lượng, không được bảo trì thường xuyên cho nên số liệu quan trắc chưa được chuẩn hóa, thường xuyên xảy ra lỗi...
Việc quản lý, vận hành đập, hồ chứa thủy lợi giúp bảo đảm an toàn công trình trong mọi tình huống, cắt giảm lũ hiệu quả cho hạ du để giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản, đồng thời tích nước tối đa để phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và các ngành kinh tế. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển đổi từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý thông minh dựa trên nền tảng số, xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định vận hành hồ chứa thủy lợi kịp thời, chính xác, linh hoạt, chủ động.
Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Tùng Phong cho biết: “Thời gian tới ngành thủy lợi cần cập nhật cơ sở dữ liệu mưa, lũ, thông số thiết kế và tiêu chuẩn an toàn đập để phù hợp với các giá trị cực đoan mới của thời tiết. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số giúp ngành giải quyết các bài toán thực tế về dự báo lũ, tính toán dung tích phòng lũ và hỗ trợ ra quyết định theo thời gian thực”.
Theo Phó Cục trưởng Chuyển đổi số Đặng Duy Hiển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), việc chuyển đổi số phải bắt đầu từ số hóa dữ liệu hiện hữu, bảo đảm các thông tin đúng, đủ, sạch, sống và thống nhất, lấy trực tiếp từ nguồn, tránh sai lệch hoặc không chính xác. Khi có dữ liệu chuẩn và đầy đủ, hệ thống quản lý sẽ giúp giám sát, vận hành và điều phối hồ đập theo thời gian thực, hỗ trợ dự báo, cắt giảm lũ hiệu quả cho hạ du, tối ưu khai thác nước tưới, sinh hoạt và thủy điện.
Để bảo đảm an toàn hồ chứa thủy lợi và vùng hạ du, thời gian tới các đơn vị quản lý khai thác hồ cần đánh giá việc vận hành trong tình hình mưa, lũ để làm cơ sở điều chỉnh, bổ sung quy trình vận hành phù hợp điều kiện biến đổi khí hậu, mưa, lũ cực đoan; các hồ chứa cần cập nhật dữ liệu, chia sẻ dữ liệu quan trắc, vận hành công trình; có quy chế phối hợp chính quyền cấp xã và đơn vị liên quan ở hạ du để theo dõi, giám sát, cung cấp thông tin liên quan phục vụ quản lý, vận hành.
Mặt khác, các đơn vị quản lý khai thác cần tính toán dòng chảy đến hồ, quan trắc hạ lưu hồ chứa và quy trình kỹ thuật vận hành cửa van; phân công nhiệm vụ, trách nhiệm đến từng đơn vị, cá nhân để bảo đảm an toàn cho công trình và hạ du. Các đơn vị thủy lợi phối hợp cơ quan, đơn vị liên quan tại địa phương thu thập số liệu vết lũ để xây dựng mới phương án ứng phó thiên tai cho công trình, bản đồ ngập lụt hạ du, hành lang thoát lũ và phương án ứng phó tình huống khẩn cấp sát với thực tế.