Nhạc sĩ Doãn Nho:

"Bản sắc giao hưởng Việt Nam", bóng đang ở chân nhà quản lý"

Nếu ông không nói, có lẽ tôi không hề biết ông là người viết giao hưởng đuợc học hành bài bản ở Liên Xô. Rồi một lần ông nói, báo nên viết về Ðàm Linh, Nguyễn Văn Nam và những nghệ sĩ lớn khác... những người có công xây dựng lên một "nền giao hưởng Việt Nam" - một khái niệm mà ông cam đoan là đã có.

- Thưa nhạc sĩ, hình như ông đang đánh vật với một tác phẩm thuộc thể loại mà ở Việt Nam, hiện ít người muốn viết? Tác phẩm đó là gì?

- Viết giao hưởng cũng giống như người ta viết tiểu thuyết, là ước mơ của nhiều người. Thành thật mà nói, không học cũng có thể sáng tác được ca khúc hay, vì nhạy cảm bẩm sinh, ảnh hưởng dân ca... Ðặc biệt ca khúc có ca từ là điểm tựa. Giao hưởng chỉ có âm thanh, âm sắc, tiết tấu, nhạc điệu mà người ta hiểu, không học không viết được.

Tác phẩm tôi đang viết - vũ kịch Một thời và mãi mãi về Ðặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc - do Nghệ sĩ Ưu tú Lê Huân viết kịch bản và tham gia biên đạo, là chương trình của Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam chào mừng Ðại hội Ðảng lần thứ X.

Tôi có mời con trai tôi - nhạc sĩ Doãn Nguyên cùng viết. Chúng tôi muốn có phong cách của hai thế hệ. Tôi viết cảnh 1, 3, 5, 7: "Cuộc chia li màu đỏ", "Lá đỏ", "Thiên thần áo trắng", "Một thời và mãi mãi", còn Doãn Nguyên viết cảnh 2. 4, 6: "Cánh thư theo gió", "Ánh lửa sông Hàn" và "Dòng sông hoa đỏ". Nhưng tôi chịu trách nhiệm bố cục thống nhất toàn vở.

 Cả bảy cảnh đều quan trọng. Tôi đặc biệt xúc động với cảnh Nguyễn Văn Thạc và Ðặng Thùy Trâm hy sinh. Thí dụ cảnh 5: "Thiên thần áo trắng". Thời chiến tranh. Tiếng trống ếch. Phố phường Hà Nội thời chiến. Phong cách Hà Nội hào hoa. Con gái Hà Nội, tình yêu Hà Nội - Vẻ đẹp rất hợp ngôn ngữ ballet cổ điển. Ở cảnh 5, violon độc tấu cùng dàn nhạc là đặc trưng của concerto. Không có tư duy ca khúc. Cũng không có dân ca.

Ông có thể nói gì về công việc sáng tác hiện nay? Nghe nói, khi biết ông viết giao hưởng, có người đã ngạc nhiên và mỉm cười. Nếu có một tác phẩm khí nhạc tâm đắc, ông có đánh đổi những vinh quang của "Tiến bước dưới quân kỳ", "Năm anh em trên một chiếc xe tăng", "Người con gái sông La"... không?" Ông thích sáng tác ca khúc hay giao hưởng hơn?

- Không nên bài bác dòng nhạc nào, bởi đó là hai tư duy. Với tôi, yếu tố ca khúc và yếu tố giao hưởng gắn bó, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Tôi luôn ủng hộ bạn bè viết giao hưởng, vì nền giao hưởng của chúng ta đang yếu (so với ca khúc).

Ðúng là có người đã hoài nghi: "Một ca khúc hay còn hơn một bản giao hưởng tồi". Nếu cứ thế, bao giờ ta mới có một nền giao hưởng lớn mạnh? Một nền âm nhạc không có giao hưởng sẽ ra sao? Tôi nói thế với tư cách là người viết ca khúc, hành khúc.

- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam được coi là nhà soạn nhạc giao hưởng lớn của Việt Nam, đồng thời là nhà lý luận uy tín từng nói, viết một giao hưởng có khi cả năm trời chỉ ăn rồi vắt óc viết, ông chia sẻ thế nào?

- Anh nói đúng về Nguyễn Văn Nam, một nghệ sĩ lớn, một nhà giáo tâm huyết. Sáng tác giao hưởng khó vì nó đòi hỏi sử dụng toàn bộ dàn nhạc với những tính năng nhạc cụ khác nhau. Vang lên phải thành giao hưởng, chứ cả dàn nhạc chơi một ca khúc thì đâu phải giao hưởng?

Thế nào là bản sắc Việt Nam, "chất Việt Nam"? Có thể dựa vào dân ca Việt Nam, rồi phát triển thành ngôn ngữ giao hưởng - sự phát triển mang tính âm nhạc cao nhất: có thể vang lên ở âm khu cao nhất, trầm nhất, chậm nhất, hoặc cực nhanh mà thanh quản của con người khó có thể đạt được. Ðó là sự cực khổ trong thách thức, và vượt qua thách thức cũng là niềm đam mê.

- Kinh tế thị trường là bà đỡ của nhiều ngành nghề. Trong âm nhạc, nhạc nhẹ có lẽ hưởng lợi rõ nhất? Còn nhạc giao hưởng, ai lo: Nhà nước? Các Mạnh thường quân? Hay kệ thị trường xô đẩy?

- Trong bối cảnh hội nhập, thể loại nào cũng có fan riêng. Với dân tộc Việt Nam ta, trí tuệ Việt Nam ta, với khả năng sáng tác, hưởng thụ của người Việt, tôi tin công chúng sẽ hiểu, yêu giao hưởng. Vấn đề là quản lý, tổ chức. Bóng đang ở chân nhà quản lý chứ không phải ở nghệ sĩ và công chúng. Tổ chức khơi dậy sao cho tốt? Người ta còn tự làm được máy bay cơ mà?

- Theo ông, có thể khai thác mặt tích cực của cơ chế thị trường không? Hay giữa nhạc bác học và thị trường là sự bất hòa vĩnh viễn? Giáo dục đẩy mặt bằng thẩm mỹ lên, từ đó tạo ra thị hiếu, thị trường sẽ phải ra sao?

- Phải từng bước. Không có tài trợ thì không có Glinka, Tchaikovsky, mà không có họ làm sao có nền âm nhạc Nga? Từ Mozart, Haydn, Bethoven mới có trường phái cổ điển Ðức. Vai trò của các Mạnh thường quân nghệ thuật rất quan trọng. Xưa nay, công chúng giao hưởng bao giờ cũng từ thành thị mà ra. Tôi biết Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam đã thử giới thiệu cho công chúng tìm hiểu tính năng các nhạc cụ trong dàn nhạc.

Ca sĩ Mỹ Linh mới có một anbum hát những khúc hát cổ điển. Thế mà có người bảo: "Tưởng gì ! Lại đặt lời vào cổ điển!". Ta đang quen nghe ca khúc, sao không  đặt ca từ cho hay vào giai điệu cổ điển để giáo dục, nâng hiểu biết âm nhạc cổ điển lên? Theo tôi, đó là cách chủ động tạo ra công chúng. Người ta hiểu rồi mới thích. Không sốt ruột được.

- Ban chấp hành Hội nhạc sĩ vừa rồi đã đưa nhạc giao hưởng "lên bàn mổ" nghị sự? Ðó có phải là bức xúc thật sự ? Vai trò của Nhà nước thông qua Bộ chủ quản và Hội nghề nghiệp là gì? Theo ông, hiện đã có chuyển động nào chưa?

- Bức xúc thật. Chúng ta đang muốn nâng thể loại khí nhạc ngang tầm khu vực. Nói "nâng lên", bởi hiện ta đang có mặt thấp hơn. Tôi biết, có những liên hoan giao hưởng ASEAN, ta tìm không ra tác phẩm gửi đi. Họ có những chuẩn mực riêng. Ta phải tiếp xúc, phải tham gia. Ðiều này vẫn thuộc về khâu tổ chức, quản lý.

Giao hưởng Việt Nam hiện đã có những tác phẩm chất lượng. Có thể hình thành những đêm, thậm chí cả tuần lễ giao hưởng của nhiều tác giả, từng tác giả.

- Về vai trò của Nhà nước, ông nói gì về cơ chế đặt hàng, hội đồng duyệt, giải thưởng? Ðiện ảnh đang bắt đấu thầu để loại bỏ những phim dở "cúng cụ", hoặc là một thứ "chiếu kèm", như thể bia kèm thời bao cấp. Ông nghĩ thế nào?

- Tôi vẫn trước sau như một đánh giá cao vai trò đỡ đầu của Nhà nước. Không đầu tư, lấy đâu ra sáng tác trong điều kiện hiện nay? Viết ba cảnh vở vũ kịch vừa rồi, riêng tiền thu âm đã trên dưới 30 triệu.

Không có Trung ương đầu tư, chúng tôi không có cơ hội sáng tạo. Song sử dụng đồng tiền ấy ra sao mới là vấn đề.

Về tổ chức, tôi thấy cách làm của Thành phố Hồ Chí Minh là hay. Giao hưởng thành phố Hồ Chí Minh đang được Thành ủy, Ủy ban rất ủng hộ. Họ chiêu đãi quốc tế bằng... ballet, giao hưởng.

Trong khi đó ở Hà Nội, Hội Âm nhạc Hà Nội gõ cửa các cấp bao nhiêu lần. Một chương thanh xướng kịch Lý Thái Tổ xuống chiếu dời đô dài có 14 phút, viết từ năm 2001, đến đầu năm 2005 mới "chào đời", nhưng lại bằng tiền ít ỏi của Ðài Truyền hình Hà Nội chứ không phải của thành phố. Ðấy là dịp 995 Thăng Long đấy!

Gần đây, với 40 triệu đồng vỏn vẹn, hôm 10-10-2005, cố lắm cũng chỉ hát đớp, nhạc đớp. Tác giả không một xu. Tuy nhiên chung quanh chuyện hay, dở của tài trợ, còn nhiều điều đáng nói lắm.

- Thưa nhạc sĩ, nếu nhất định không đớp, thì tốn khoảng bao nhiêu?

- Anh cứ hình dung tạm, diễn viên hợp xướng 60 người. Dàn nhạc khoảng 60 nhạc công. Rồi đạo diễn, âm thanh, ánh sáng, phục trang, chi phí các buổi tập, tổng duyệt... phải hàng trăm triệu. Thành phố Hồ Chí Minh chắc làm được.

Hồi 1984, tôi viết Thơ giao hưởng Thánh Gióng. Hai vợ chồng có hai cái đài Orionton bán đi. Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam do anh Ðỗ Dũng chỉ huy. Hai sĩ quan của Tổng Cục Chính trị bán đài dựng vở! Ðành là vì nghề, ai cũng thế. Nhưng tôi nghĩ không nên kéo dài mãi tình cảnh đó.

- Người ta vẫn nói đến những khoảng cách, thí dụ như cách trao giải cho Huy chương vàng bóng đá với Huy chương vàng Toán quốc tế; như giải thưởng nhạc nhẹ cỡ Sao Mai, với những tác phẩm khí nhạc hoành tráng mà ít người nghe? Ông thấy cần phải thay đổi cách đánh giá không, nguồn tài chính ở đâu, và ai làm việc đó?

- Giải thưởng cũng quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là làm sao công khai hóa việc đánh giá, thẩm định các giá trị trước ánh sáng ban ngày. Vấn đề là rót tiền cho ai, chất lượng sản phẩm thế nào? Công bố có thể bằng băng, đĩa, phê bình lý luận. Giải Sao Mai rất hay, và Truyền hình có thể tạo sân chơi âm nhạc chuyên về giao hưởng, thính phòng.

Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến của nhạc sĩ Ðỗ Hồng Quân sắp tới sẽ giới thiệu những tác phẩm giao hưởng của những thế hệ đi truớc. Anh Ðàm Linh, anh Nguyễn Văn Nam... rất xứng đáng tôn vinh. Nhà nước vẫn phải cầm cân nẩy mực, điều tiết việc này.

- Có người nói, âm nhạc Việt Nam thế kỷ 20 là nền âm nhạc không cân đối, mạnh về ca khúc phổ thông mà yếu về khí nhạc và ca khúc nghệ thuật (ở đây "nghệ thuật" dùng với hàm nghĩa sáng tạo độc đáo, mới lạ, là thử thách to lớn về nhiều phương diện với cả người sáng tác và người nghe; và âm nhạc phổ thông - ám chỉ sự dễ hiểu, dễ cảm thụ, do vận dụng những công thức sẵn có). Ông có thấy cực đoan không?

- Ở ta bây giờ, khí nhạc yếu hơn thanh nhạc. Trong thanh nhạc hầu như chỉ độc tôn ca khúc, còn thanh xướng kịch, opera... nữa chứ? Trong ca khúc chủ yếu mới nhằm vào nhạc nhẹ, yếu về ca khúc nghệ thuật, hành khúc... Trong nhạc nhẹ lại chủ yếu nhằm vào hip hop, rock, pop... Còn cả nhạc nhẹ có hơi dân ca, hơi thính phòng nữa chứ? Tình hình nói chung là lệch. Phải nhìn thẳng vào hiện thực đó với tinh thần xây dựng.

- Còn vai trò của các nhạc viện, các nhà hát, thưa ông?

- Các nhạc viện có công rất lớn. Các nghệ sĩ thành danh đều từ đó cả. Việc nên làm bây giờ là tổng kết lý thuyết âm nhạc Việt Nam vì đã đến lúc rồi. Ðược thế thì giáo trình, giáo án mới thật sự của Việt Nam, chứ không vẫn chỉ là lý thuyết nước ngoài.

Các nhà hát vẫn là nơi giới thiệu, biểu diễn, giao lưu. Nếu tổ chức không giỏi, không khéo sẽ đắp chiếu như Nhà hát Chèo vậy. Không có Nhà hát thì bảo không có "thánh đường nghệ thuật". Lỗi không phải tại "thánh đường". Lỗi do con người.

Xin cảm ơn ông.

Có thể bạn quan tâm