Bản sắc dân tộc trong nghệ thuật múa

ND - Nghệ thuật múa ở Việt Nam là sự hội tụ của thành phần múa trong nền nghệ thuật của nhiều dân tộc. Tất nhiên, trong các dân tộc ở Việt Nam, không phải dân tộc nào cũng có một nghệ thuật múa hoàn chỉnh, vì điều này lệ thuộc vào lịch sử phát triển của mỗi dân tộc.

Nói vậy cũng không có nghĩa là đã có dân tộc không có múa, vì đôi khi chỉ vài ba động tác còn đơn giản, hoặc múa còn "ẩn" trong tập tục, nghi thức tôn giáo chưa xuất hiện độc lập trong sinh hoạt cộng đồng. Lại có những dân tộc sống chung với nhau trên một khu vực (nhiều khi chỉ là một ngành hay một nhánh tộc được chia ra) và có tập tục sinh hoạt văn hóa gần nhau, như ở Tây Bắc, Ðông Bắc, Tây Nguyên... Những điệu múa của các dân tộc này chỉ khác nhau một vài đường nét trong cùng một động tác, hoặc vài bước nhún nhảy khi múa và phải có con mắt nghề nghiệp mới nhận thức được sự khác biệt này, bởi nhiều khi đó chỉ là dị bản sinh ra từ một nguyên mẫu.

Nghệ thuật múa được sinh ra với phương thức biểu cảm nghệ thuật riêng, bắt nguồn từ cơ thể con người. Ngay từ thời còn mông muội, tiếng nói còn chưa hoàn chỉnh, mọi cử chỉ động tác đã là tiếng nói thứ hai (tiếng nói cơ thể). Khi xã hội con người tiến triển qua các thời kỳ văn minh thì những động tác cơ thể ấy cũng được biến hóa, chúng không còn giữ nguyên những động tác có tính minh họa ngữ nghĩa (phù trợ cho tiếng nói) đơn thuần mà đã phát triển thành những đường nét khắc họa trạng thái tình cảm nội tâm, sinh ra các hình thức giao lưu tình cảm trong đời sống tinh thần, cao hơn nữa là biểu cảm lý tưởng thẩm mỹ vươn tới những khát vọng về tương lai qua hình thức tác phẩm. Do vậy, múa trực tiếp sinh ra từ cơ thể con người và là công cụ biểu hiện tâm lý tình cảm con người, mà con người ấy bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, với tất cả những đặc điểm riêng về văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng (tất nhiên phương thức biểu cảm này cũng là phương thức chung của sáng tạo nghệ thuật).

Trong lịch sử múa thế giới, người ta đã có ý định đồng nhất nghệ thuật múa trên toàn cầu. Ðã có những sáng tạo được chấp nhận, được phổ cập rộng rãi (nghệ thuật múa ba-lê sinh ra từ thế kỷ 16), nhưng vẫn chỉ được xem như một "trường phái" nghệ thuật, góp thêm một hình thức biểu diễn múa, trong đó xuất hiện một hệ thống động tác kỷ thuật, kỹ xảo riêng, có tên gọi thống nhất với một phong cách riêng trong cả lĩnh vực sáng tác, biểu diễn và huấn luyện đào tạo, rèn luyện kỹ xảo biểu diễn của diễn viên nói chung. Hình thức nghệ thuật ba-lê được nhiều dân tộc tiếp nhận, nhưng cũng không thể thay thế cho các hình thức múa dân gian dân tộc. Nhìn rộng ra trong quá trình phát triển lịch sử, các dân tộc trên thế giới đã sinh ra các thể chế xã hội khác nhau, thường thì những biến đổi đó làm cho cái bản sắc dân tộc hoặc được tôn lên, đậm đà hơn, khởi sắc hơn, hoặc lại bị thui chột đi bởi văn hóa ngoại lai xâm nhập, hoặc có nơi xóa bỏ cả nguồn gốc dân tộc để "hóa thân" vào văn hóa một dân tộc khác. Cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc bao giờ cũng tiêu biểu cho sức sống của một dân tộc và nó ngày càng được đậm đà bản sắc hơn khi các lĩnh vực hoạt động nghệ thuật được bổ sung thêm hương sắc mới của thời đại, tôn vinh sức sống của một dân tộc trong cộng đồng xã hội con người trên Trái đất. Nếu hiểu bản sắc dân tộc một cách chung chung sẽ dẫn đến những luẩn quẩn trong phương pháp sáng tạo nghệ thuật hoặc đồng hóa không phân biệt ranh giới nghệ thuật múa dân tộc với sự tiếp thu tinh hoa của dân tộc khác hoặc bảo thủ coi múa dân tộc là tất cả, nhưng lại loay hoay gìn giữ, sáng tạo quay lại vết mòn cũ "bình cũ rượu mới", lấy "râu ông nọ cắm cằm bà kia", theo thủ pháp lắp ghép "mô-đun" của thời hiện đại... Sự luẩn quẩn của cả hai cách làm này đều dễ dẫn đến làm nghèo nàn, thui chột và kìm hãm sự phát triển của bản sắc dân tộc trong thời đại mới.

Quy luật của nghệ thuật là sự sáng tạo không ngừng. Thời đại mà nghệ thuật tồn tại cũng biến đổi không ngừng, vì thế phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu các yếu tố mà thiết nghĩ là động lực cho sự khắc họa sâu đậm bản sắc dân tộc trong lý luận, phê bình, sáng tác, biểu diễn và đào tạo. Thí dụ, như yếu tố địa lý tự nhiên. Các nhà nghiên cứu ở trong nước cũng như trên thế giới khi nghiên cứu quá trình sinh ra, phát triển và hình thành sự khác nhau của xã hội loài người đều có một quan điểm chung là bản sắc dân tộc trước hết đó là do ảnh hưởng của địa lý tự nhiên hình thành nên. Là cái hiện thực đã trải qua của một quá trình vận động lâu dài do những yếu tố khách quan từ bên ngoài tác động vào đời sống con người hay xã hội, đó là sự ảnh hưởng của những đặc trưng về khí hậu, hệ sinh thái... do các quy luật tự nhiên đó chi phối. Ðây cũng là cái hiện thực của sự tồn tại cũng là sự thử thách mà mỗi dân tộc hay một cộng đồng dân tộc khi định vị trên một tọa độ nào đó để tạo ra một lãnh thổ địa lý của riêng mình đều được trải nghiệm, chịu đựng hay thích nghi để tồn tại. Nhưng quy luật của yếu tố tự nhiên đó, ở thời đại ngày nay đối với các dân tộc, đã khác đi nhiều. Các dân tộc duy trì sự sống và phát triển nó trên cơ sở của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật bùng nổ trên toàn cầu. Cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang biến đổi dần nếp sống, tập tục lâu đời của mọi thành viên trong cộng đồng các dân tộc. Vậy cái đặc điểm của không gian "địa lý tự nhiên" đang được con người cải tạo có còn giữ nguyên sự chi phối như trước đây? Nó đã tác động đến nghệ thuật múa như thế nào? Ảnh hưởng của nó đến cấu trúc hình thức, động tác múa và cái bản sắc dân tộc được hình thành lên hàng trăm năm nay ra sao? Cho nên đây là một vấn đề nếu không nghiên cứu lý giải một cách khoa học thì sẽ tiếp tục lúng túng trong sáng tác, trong lý luận phê bình về cái gọi là bản sắc dân tộc trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng để hình thành bản sắc dân tộc trong múa là không gian "địa lý - văn hóa". Nếu yếu tố địa lý tự nhiên là cái không gian để con người có thể thích nghi, tồn tại tự do, duy trì sự sống như mọi sinh vật khác thì yếu tố địa lý - văn hóa là cái không gian thứ hai do con người sinh ra từ khi hình thành xã hội để nuôi dưỡng sự hoạt động trong lĩnh vực tinh thần, tình cảm. Có thể nói, yếu tố địa lý - văn hóa là không gian mà con người sinh ra và từ đó hình thành nên các giá trị chân - thiện - mỹ để nuôi dưỡng và sáng tạo trong hoạt động của đời sống xã hội. Nó hình thành hai lĩnh vực: văn hóa hữu thể (tangible) và văn hóa vô thể (Intangible). Trước đây thường quen chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Sự phân chia này là cần thiết, nhưng cũng chỉ là tương đối để có một cách nhìn toàn diện, tổng thể, bởi lẽ trong văn hóa hữu thể lại có cái vô thể và ngược lại, nó gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người. Trong nghệ thuật múa dân gian của từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã sáng tạo nên nhiều điệu múa gắn bó với đời sống của mình bằng những động tác vừa thực tiễn vừa mô phỏng, ước lệ phù hợp với cảnh quan thiên nhiên với phương thức canh tác mà dân tộc mình sinh sống, để hình thành nên đặc điểm riêng như: sự mô phỏng ước lệ trong cấu trúc nội dung, hình thức; tính biểu cảm tâm lý phong phú trong cấu trúc động tác phản ánh sinh hoạt, lao động; tính hiện thực trong biểu tượng hình ảnh và đạo cụ sử dụng; tính thẩm mỹ trong đường nét múa, trang phục biểu diễn; tính tương phản của đặc điểm thiên nhiên phù hợp với tiết tấu nhịp điệu tạo ra cái sắc thái riêng của từng điệu múa. Ðây là điều cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn để sáng tạo nên cái mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Vì bản sắc dân tộc không đâu xa lạ, nó được sáng tạo ra từ bàn tay và khối óc của thành viên các dân tộc.

Vì vậy, với nghệ thuật múa thì nhiều giá trị trong múa dân gian cổ xưa mang đậm tính chất và bản sắc Việt Nam cũng đều khởi nguồn từ thời kỳ "nhất thành" để sau đó "vạn biến". Cái "vạn biến" ở đây có nghĩa là bản sắc dân tộc mà những biểu hiện của nó là sắc thái văn hóa luôn luôn biến đổi, có mất đi, có sinh sôi, nảy nở phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội mới. Vì vậy phải luôn luôn không những chỉ bảo tồn mà còn phát huy làm cho nó đậm đà hơn, rực rỡ hơn và phải làm giàu hơn trong tác phẩm biểu diễn múa của thời kỳ đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Ðiều này cần sự phát huy tài năng sáng tạo của nhà biên đạo chứ không chỉ ở các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình múa...

HOÀNG HÀ

Có thể bạn quan tâm