Các khách mời tham gia chương trình. (Ảnh: NGỌC DUY)
Các khách mời tham gia chương trình. (Ảnh: NGỌC DUY)

Bản quyền âm nhạc trên nền tảng số: Nghệ sĩ được bảo vệ đến mức nào?

Ngày 28/5, tại trụ sở 71 Hàng Trống, Hà Nội, Báo Nhân Dân tổ chức buổi tọa đàm "Bản quyền âm nhạc trên nền tảng số", tìm hiểu về thực tế bản quyền âm nhạc ở Việt Nam hiện nay, với sự tham gia của Nhạc sĩ Giáng Son (nhà sản xuất, sáng tác âm nhạc), Luật sư Trần Tám (IPCom) và ông Tào Minh Hùng (Giám đốc IFPI).

Thực tế hiện nay cho thấy, câu chuyện bản quyền vốn đã rất nhức nhối trong kỷ nguyên số, khi nội dung có thể được sao chép chỉ trong tích tắc, thì những ngày này lại càng nóng hơn bao giờ hết khi hàng loạt vụ việc vi phạm bản quyền được đưa ra trước pháp luật.

Điển hình là 5 vụ án xâm phạm bản quyền, trong đó có BH Media, một cái tên mà bất kỳ ai theo dõi nhạc Việt trên YouTube đều đã từng nghe đến. Vậy thực tế hiện nay, bản quyền âm nhạc ở Việt Nam đang ở đâu, nghệ sĩ đang được bảo vệ đến mức nào, và tiền từ âm nhạc trên các nền tảng số thực sự chảy về tay ai? Đó là những nội dung mà các khách mời gồm Nhạc sĩ Giáng Son, nhà sản xuất, sáng tác âm nhạc; Luật sư Trần Tám, IPCom; và ông Tào Minh Hùng, Giám đốc IFPI (Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế tại Việt Nam) cùng nhau chia sẻ và phân tích tại buổi tọa đàm.

Dẫn dắt buổi tọa đàm là MC Trung Hiếu.

Bức tranh thực tế về bản quyền âm nhạc tại Việt Nam

​Chia sẻ về những khái niệm chung nhất đối với bản quyền âm nhạc tại Việt Nam, Luật sư Trần Tám cho biết, khi nói về bản quyền âm nhạc, công chúng có thể hiểu đây là khái niệm gồm hai loại quyền riêng biệt. Thứ nhất là quyền đối với tác phẩm âm nhạc và thứ hai là quyền đối với bản ghi. Mỗi đối tượng sẽ thuộc về những chủ thể khác nhau và các chủ thể này có những quyền hạn khác nhau đối với đối tượng được bảo hộ.

talkbanquyenamnhac2.jpg
Luật sư Trần Tám.

Đối với tác phẩm âm nhạc, thí dụ, khi Nhạc sĩ Giáng Son sáng tạo ra một tác phẩm, chị sẽ có hai quyền. Thứ nhất là quyền nhân thân, bao gồm quyền đứng tên trên tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, quyền cho phép người khác sửa đổi, bổ sung hoặc quyền công bố tác phẩm. Thứ hai là quyền khai thác tài sản (kinh tế), với nhiều loại quyền khác nhau như quyền sao chép (bao gồm sao chép cơ học và sao chép kỹ thuật số), quyền làm tác phẩm phái sinh (dịch tác phẩm sang ngôn ngữ khác, thực hiện mashup, remix), hoặc quyền đồng bộ hóa tác phẩm trong phim ảnh hay quảng cáo.

Đối với bản ghi, từ một tác phẩm âm nhạc ban đầu, chẳng hạn bài “Giấc mơ trưa” của nhạc sĩ Giáng Son, sẽ có nhiều phiên bản khác nhau như phiên bản do ca sĩ Khánh Linh thể hiện, phiên bản do chính Nhạc sĩ Giáng Son trình bày hay gần đây là phiên bản của Bảo Châm. Mỗi phiên bản như vậy được xem là một bản ghi độc lập. Chủ thể sản xuất bản ghi cũng có các quyền tương tự như quyền sao chép (cơ học và kỹ thuật số), quyền đưa bản ghi lên các nền tảng số để khai thác, hoặc thực hiện các hoạt động phái sinh cùng nhiều hoạt động khác.

Như vậy, cần phân biệt rất rõ hai đối tượng khác nhau, gồm bản ghi và tác phẩm âm nhạc gốc (bao gồm giai điệu và phần lời).

Chia sẻ về phía người làm công việc sáng tác, Nhạc sĩ Giáng Son cho biết, các quyền mà luật sư Trần Tám vừa nêu thực tế đã được tiếp cận từ khá lâu. Chỉ trừ giai đoạn nhạc sĩ mới bắt đầu sáng tác vào năm 16-17 tuổi vì khi đó còn rất vô tư, chưa nghĩ đến các quyền này. Nhưng khi bắt đầu làm nghề chuyên nghiệp, chị thấy cần phải tìm hiểu về quyền tác giả, đó chính là quyền lợi của mình. Sau này, chị cũng tìm hiểu thêm về quyền bản ghi và các vấn đề liên quan như quyền ca sĩ, quyền phối khí... tất cả các khâu để có một sản phẩm thành công và đưa ra công chúng.​

talkbanquyenamnhac3.jpg
Nhạc sĩ Giáng Son.

Nhạc sĩ Giáng Son cho biết, về quyền của bản thân, chị hiểu rằng, nếu không tự sản xuất mà đưa cho một bên khác, chẳng hạn như ca sĩ, họ sẽ tự phối khí, thu âm và sản xuất, khi đó các quyền liên quan sẽ thuộc về người sản xuất, và chị chỉ giữ quyền tác giả. Trong trường hợp có bên thứ ba khai thác và sản xuất, họ sẽ trả tiền cho tác giả, người thu âm, phối khí và ca sĩ; khi đó quyền thuộc về bên sản xuất, và bên sản xuất đó lại trả tiền cho tác giả, bên phối khí, và khi đó chị cũng chỉ còn quyền tác giả. Mỗi trường hợp đều khác nhau và cần phải hiểu rất kỹ. "Đối với bản thân tôi, vì hiểu về quyền đó, cho nên tôi thường chọn cách vừa sáng tác vừa tự sản xuất để nắm giữ toàn bộ các quyền, giúp việc liên lạc và quản lý đầu mối trở nên thuận tiện và bao quát hơn" - Nhạc sĩ cho biết.

Chia sẻ về cách làm của riêng mình, Nhạc sĩ Giáng Son cho biết, chị ký hợp đồng với Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC). Những khách hàng muốn xin bản quyền có thể thông qua trung tâm mà không nhất thiết phải làm việc trực tiếp với tác giả. Trung tâm sẽ thay mặt tác giả giải quyết các thủ tục, điều này tạo thuận lợi cho tất cả mọi người.

Nhạc sĩ Giáng Son cũng cho biết, một điểm rất hay là đối với các tác phẩm âm nhạc có phổ thơ, khi cấp phép bản quyền, trung tâm sẽ tách bạch rõ ràng: phần nhạc chiếm 70% và phần lời (nếu là thơ) chiếm 30%. Khi đó, nhạc sĩ sáng tác không phải tự đi trả tiền cho các nhà thơ hay cộng sự viết lời mà chỉ nhận phần của mình, điều đó rất tiện lợi.

Từ góc độ Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế tại Việt Nam, một tổ chức theo dõi thị trường âm nhạc số trên phạm vi toàn cầu, chia sẻ về việc tuân thủ luật bản quyền âm nhạc ở Việt Nam, ông Tào Minh Hùng cho rằng trên thực tế, nhiều người Việt Nam từng có thói quen nghe nhạc qua đĩa lậu. Sau này, khi internet dần phổ biến hơn, người ta lại lên những trang web chia sẻ nhạc không có bản quyền để tiếp tục thưởng thức các ca khúc.

“Hiện nay, chúng ta có sẵn công cụ để hoàn toàn có thể duy trì việc nghe nhạc hợp pháp mọi lúc. Chúng ta đã có rất nhiều kênh để tiếp cận âm nhạc một cách hợp pháp. Chúng ta có thể chọn các nền tảng quốc tế hoặc nền tảng trong nước - những nền tảng đã được cấp phép và mua bản quyền một cách đầy đủ”, ông Hùng cho biết.

talkbanquyenamnhac4.jpg

Tuy nhiên, theo khảo sát của IFPI vào cuối năm 2023, có tới 66% người được hỏi ở Việt Nam vẫn sử dụng các cách thức không hợp pháp để nghe nhạc. Tức là có những người vẫn nghe nhạc hợp pháp và không hợp pháp song song với nhau. Tại Việt Nam, vẫn tồn tại môi trường, nhu cầu và có những nguồn cung cho âm nhạc không hợp pháp.

Theo ông Tào Minh Hùng, ở góc độ IFPI, đơn vị đã phải xử lý rất nhiều trường hợp vi phạm, chẳng hạn như stream ripping. “Về stream ripping, có thể hiểu rằng, thay vì lên Spotify hay YouTube để nghe trực tuyến, người dùng lại quyết định tải toàn bộ nhạc trên Spotify và YouTube xuống để có thể nghe offline kể cả khi không có internet. Hành vi này vi phạm về bản quyền âm nhạc. Rất tiếc là tại Việt Nam, có nhiều đối tượng vận hành những trang web cung cấp dịch vụ như vậy, mặc dù các trang web này không chỉ phục vụ mỗi thị trường Việt Nam”, ông Hùng phân tích.

Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế tại Việt Nam đã phải phối hợp với rất nhiều cơ quan thực thi pháp luật tại Việt Nam để xử lý những hành vi nêu trên. Đôi khi, những người dùng thông thường không được biết đến khái niệm "stream ripping" và vô tình sử dụng, dẫn đến vi phạm. Nhìn chung, sự xuất hiện của những nền tảng quốc tế cũng như các công ty âm nhạc quốc tế tại Việt Nam đã giúp nâng cao tiêu chuẩn của thị trường và làm rõ hơn câu chuyện về chấp hành pháp luật.

Chia sẻ về những tình huống liên quan đến bản quyền từng gặp, Nhạc sĩ Giáng Son cho rằng ý thức nghe nhạc của người Việt vẫn còn nhiều vấn đề. Cách đây hơn 10 năm, nghệ sĩ Huy Tuấn và Quốc Trung đã khởi động chương trình "Nghe có ý thức" để khuyến khích việc trả tiền trên các trang web chính thống, nhưng việc này rất khó khăn.

Bản thân chị từng rất sốc khi album "Giáng Son - Bóng tối" vừa ra mắt đã bị chia sẻ miễn phí trong một nhóm kín có hàng triệu thành viên, với số lượt tải về lên tới hàng trăm nghìn. Điều này khiến nghệ sĩ mất đi một lượng khách hàng mua đĩa rất lớn. "Chúng tôi cảm thấy rất buồn và bức xúc vì công sức bỏ ra, đôi khi mất tới 8 năm để hoàn thiện một album, nhưng lại bị chia sẻ miễn phí ngay lập tức. Nhiều người không đặt mình vào vị trí của nghệ sĩ để thấy sự tàn nhẫn trong hành động đó" - Nhạc sĩ bức xúc.

Gần đây nhất, năm 2021, bản thân Nhạc sĩ Giáng Son đã có một vụ việc liên quan đến bản quyền bài hát "Giấc mơ trưa", và vụ việc đó dây dưa cho đến tận bây giờ. Chị cho biết, khi đăng bản thu âm do chính mình sản xuất lên kênh YouTube cá nhân, bản thu âm đó đã bị BH Media đánh bản quyền. Tìm hiểu ra mới biết, nghệ sĩ Dương Thùy Anh đã xin bản phối của Nhạc sĩ Giáng Son để làm album và phát hành qua Hồ Gươm Audio. Hồ Gươm Audio sau đó đã bán quyền phát hành hàng trăm CD cho BH Media mà không thông báo cho tác giả và nhà sản xuất. BH Media đã quét bản quyền trên mạng và nhận là chủ sở hữu. Đây là một chuỗi sai lầm từ khâu cho mượn bản phối, sản xuất CD không hỏi ý kiến, đến việc bán quyền khai thác mà không có sự đồng ý của tác giả.

talkbanquyenamnhac8.jpg

Từ những câu chuyện liên quan đến bản quyền được chia sẻ, Luật sư Trần Tám cho rằng, về câu chuyện của chị Giáng Son, bản phối đó và đã thực hiện từ năm 2007. Vào thời điểm ấy, toàn bộ thị trường âm nhạc đều tồn tại trong bối cảnh tương tự; thậm chí hệ thống Content ID của YouTube cũng chỉ thực sự hoàn thiện vào giai đoạn cuối những năm 2010, khoảng từ 2017 đến 2019. Trước năm 2010, những trường hợp như chị Giáng Son kể diễn ra khá phổ biến trong thực tế.

Trước đây, nghệ sĩ thường thu âm tại các hãng đĩa. Dù nghệ sĩ tự bỏ toàn bộ chi phí sản xuất bản ghi, nhưng thời điểm đó, đây vẫn là loại hình văn hóa phẩm phải đăng ký khi phát hành. Chỉ những cơ sở sản xuất văn hóa phẩm mới đủ điều kiện xin giấy phép phát hành, vì vậy họ đương nhiên đứng tên trên sản phẩm của mình. Khi ấy, phần lớn các bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau và không có bằng chứng chứng minh việc đầu tư sản xuất.

Mặc dù pháp luật quy định khá rõ chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền đối với bản ghi thuộc về người đầu tư, song việc chứng minh trên thực tế rất khó khăn do thiếu hợp đồng. Một khía cạnh khác liên quan đến nghệ sĩ biểu diễn: có trường hợp nghệ sĩ đi hát, sau đó một ngày phát hiện bản ghi xuất hiện trên YouTube. Trường hợp này không có hợp đồng, mà chỉ thỏa thuận miệng vì quen biết thân thiết, thậm chí hát giúp mà không nhận thù lao. Trong quá trình biểu diễn trên sân khấu, bản ghi bị quay lại rồi đưa lên YouTube để khai thác mà nghệ sĩ hoàn toàn không hay biết. Đến khi phát hiện, họ cũng không thể yêu cầu gỡ xuống vì phía bên kia có đầy đủ công cụ và nền tảng để khai thác nội dung.

Đó là những thực tế rất rõ ràng. Những người có nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình như chị Giáng Son thực tế không nhiều.

Một trường hợp khác, theo Luật sư Trần Tám, một nghệ sĩ chia sẻ rằng chị ký hợp đồng từ năm 2000, gia hạn từ 2021 đến 2027, nhưng suốt nhiều năm không nhận được khoản doanh thu nào từ việc quản lý kênh YouTube thông qua một đại lý. Chỉ đến khi trò chuyện với một nghệ sĩ trẻ - người có số lượng tác phẩm ít hơn nhưng thu về khoảng 70 triệu đồng trong 3 tháng qua một nhà phân phối khác, chị mới nhận ra vấn đề.

Điều đó cho thấy sự thiếu hụt kiến thức về thị trường cũng như cách vận hành của các nền tảng số. Nghệ sĩ nhiều khi không biết mình đang sở hữu những tài sản gì. Ngoài sản phẩm âm nhạc, thương hiệu cá nhân, tức tên tuổi của nghệ sĩ, cũng có giá trị rất quan trọng. Nếu hoạt động solo thì tên tuổi thuộc về cá nhân, nhưng nếu hoạt động theo nhóm thì cái tên thuộc về tập thể.

Luật sư Trần Tám cho rằng, nhìn lại lịch sử, trong bối cảnh nhận thức về sở hữu trí tuệ cũng như chính sách của các nền tảng còn chưa rõ ràng, chúng ta cần có cái nhìn xuyên suốt. Hiện nay, nghệ sĩ đứng trước nhiều lớp quyền đan xen, từ các quyền dân sự như bí mật cá nhân, tên tuổi, hình ảnh đến các quyền sở hữu trí tuệ.

Điều quan trọng là nghệ sĩ phải nhận diện được tài sản của mình để quản trị và khai thác hiệu quả. Nếu việc này quá phức tạp, họ nên ủy quyền cho một đơn vị quản lý uy tín để xử lý cả về mặt pháp lý lẫn kinh doanh. Năng lượng của nghệ sĩ nên được dành trọn cho nghệ thuật.

Đương nhiên, nhiều người cũng đã nhận ra những bất cập trước đây và hiện đang trong quá trình kiểm toán lại hợp đồng để xem việc đối soát doanh thu có minh bạch hay không. Đôi khi nghệ sĩ quá bận rộn nên quên mất việc quản lý và tối ưu hóa tài sản của mình, để những “đứa con tinh thần” trôi nổi trên mạng mà không thu được nguồn lợi xứng đáng. Đó cũng là bức tranh chung của không ít nghệ sĩ mà luật sư từng làm việc cùng.

Khai thác bản quyền âm nhạc

Một trong những vấn đề được quan tâm đối với bản quyền âm nhạc là khai thác bản quyền sao cho đúng pháp luật và hiệu quả. Chia sẻ từ ​thực tiễn của đơn vị mình, về việc ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu đang tạo ra doanh thu từ bao nhiêu nguồn khác nhau và tỷ trọng giữa streaming, performance rights từ phát sóng và biểu diễn công cộng, sync licensing, cùng các nguồn ngoại tuyến khác, ông Tào Minh Hùng cho biết, về doanh thu của âm nhạc, trước hết là doanh thu đến từ các bản ghi, theo ông Tào Minh Hùng, Giám đốc IFPI, riêng với bản ghi thì có rất nhiều cách khai thác và cũng có rất nhiều nguồn doanh thu khác nhau.

talkbanquyenamnhac7.jpg

Nổi bật nhất hiện tại ở cả Việt Nam lẫn trên quốc tế là các nền tảng streaming (phát trực tuyến). Người dùng nghe nhạc qua YouTube, Spotify hay qua những nền tảng trong nước, đó là những nền tảng streaming và sẽ có một phần doanh thu đến từ đây.

“Tiếp theo là nguồn doanh thu liên quan đến đĩa vật lý. Chúng ta đã có một thời gian bị cuốn theo nhạc kỹ thuật số, nhưng hiện nay ngành công nghiệp âm nhạc bắt đầu nhận thấy người hâm mộ ngày càng mong muốn sở hữu đĩa vật lý. Thậm chí, có những người trẻ tìm về đĩa than. Với nhiều người, họ mua không phải chỉ để nghe như ngày xưa, mà họ xem đĩa vật lý hay các vật phẩm tương tự như một loại hình lưu niệm. Và mảng này vẫn đóng góp vào nguồn doanh thu của bản ghi và mang lại lợi nhuận cho các công ty ghi âm cũng như nghệ sĩ”, ông Tào Minh Hùng thông tin.

Tiếp đến, một nguồn thu rất quan trọng và cũng là mảng mà Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để cải thiện là doanh thu từ public performance (biểu diễn công cộng). Lấy thí dụ ở góc độ bản thu, gần đây, báo đài nói rất nhiều về việc một số quán cà phê, quán ăn, khách sạn, trung tâm thương mại hay siêu thị phát các bài hát từ những bản ghi có sẵn.

Với hành vi sử dụng này, các đơn vị trên sẽ có trách nhiệm trả tiền bản quyền. Họ không cần phải xin phép để được bật, nhưng họ phải trả tiền để được sử dụng. Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả âm nhạc Việt Nam là nơi họ trả tiền đối với phần quyền tác giả của sáng tác đó. Và vì sử dụng bản ghi, họ cũng phải trả thêm một khoản cho các bên nắm giữ quyền bản ghi ấy.

talkbanquyenamnhac9.jpg

Hiện tại, IFPI cũng đang hỗ trợ cho một tổ chức hoạt động trong việc cấp phép sử dụng quyền bản ghi trên. Các cơ sở kinh doanh có nhu cầu sử dụng bản ghi để phát nhạc nền sẽ phải liên hệ đầy đủ với cả bên nắm giữ quyền tác giả và bên nắm giữ quyền liên quan đến bản ghi nhằm thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền bản quyền cho việc sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh của mình.

Liên quan đến cơ cấu giữa các nguồn doanh thu khác nhau, Giám đốc Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế tại Việt Nam Tào Minh Hùng cho hay, doanh thu đến từ quyền đồng bộ cũng là nguồn thu đáng chú ý. “Thí dụ, chúng ta có một bản ghi và có rất nhiều bộ phim hay TVC quảng cáo muốn lồng bài hát hay bản ghi đó vào nội dung của họ. Họ bắt buộc phải xin phép chủ thể quyền và sau đó thương lượng để thống nhất một khoản tiền phù hợp để sử dụng chúng”, ông Hùng giải thích.

Theo đó, cơ cấu doanh thu âm nhạc ở Việt Nam có sự khác biệt so với quốc tế chủ yếu nằm ở mảng quyền biểu diễn công cộng. Hiện tại, ý thức trả tiền cho việc sử dụng âm nhạc của các cơ sở kinh doanh tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Ghi nhận từ IFPI cho thấy, trên thế giới, có khoảng 10% doanh thu của các công ty sản xuất bản ghi đến từ khoản phí này. Ở Việt Nam, khoản thu này thấp hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, theo ông Tào Minh Hùng, điểm chung của Việt Nam so với thế giới là chúng ta đều đang có lượng doanh thu áp đảo đến từ streaming. Song song với đó, nguồn thu từ đĩa vật lý cũng đang theo xu hướng tăng lên. Chúng ta không thể biết xu hướng này sẽ kéo dài đến bao giờ, nhưng rõ ràng trong khoảng 5-6 năm gần đây, doanh thu từ các sản phẩm vật lý đang tăng.

“Khi bạn sử dụng một nền tảng phát nhạc, dù bạn có trả tiền hay không trả tiền (chấp nhận nghe quảng cáo) thì bạn đều đã đồng ý với điều khoản dành cho người dùng rằng: tôi chỉ sử dụng dịch vụ này cho mục đích cá nhân. Vậy nên, khi bạn dùng nó cho mục đích kinh doanh thì chắc chắn là bạn đang vi phạm điều khoản người dùng của các nền tảng đó. Ở góc độ khác, các đơn vị, tổ chức đại diện nắm giữ quyền bản ghi, quyền tác giả sẽ đại diện cho chủ thể quyền, có quyền đến yêu cầu các cơ sở kinh doanh phải trả tiền cho việc sử dụng tác phẩm”, ông Hùng nói thêm.

Luật sư Trần Tám bổ sung rằng, khi nhấn nút chấp nhận điều khoản trên các nền tảng, thực chất chúng ta đang ký kết một hợp đồng dân sự với họ. Nếu vi phạm, họ có thể xử lý theo con đường dân sự hoặc ủy quyền cho các tổ chức đại diện tập thể quyền (CMO) để thu tiền. Nếu vi phạm nghiêm trọng, hành vi đó có thể bị xử lý hình sự.

Thực tế, có những quy định rất chi tiết. Thí dụ, bạn có thể mua một hình ảnh để thiết kế cho sản phẩm của công ty mình, nhưng bạn không được dùng chính hình ảnh đó để bán lại thiết kế cho đơn vị khác. "Hầu hết chúng ta thường chủ quan và bỏ qua các điều khoản này vì thấy người khác cũng làm vậy mà không gặp vấn đề gì" - Luật sư Trần Tám chia sẻ.

Tự bảo vệ mình bằng pháp luật

Đối với tài sản trí tuệ, nghệ sĩ thường tự tìm cách bảo vệ mình bằng cách tìm hiểu luật pháp, hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của một bên am hiểu về luật pháp.

Về công cụ pháp lý, Luật sư Trần Tám cho biết, hệ thống pháp luật hiện nay đã cung cấp tương đối đầy đủ các công cụ cần thiết; điều quan trọng nằm ở cách chúng ta triển khai và thực thi các công cụ đó trong thực tế.

Hiện vẫn còn những khoảng trống lớn, trước hết là nhận thức của chính các chủ thể đang nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ, như trường hợp của nhạc sĩ Giáng Son. Bên cạnh đó là năng lực thực thi, đặc biệt là năng lực thực thi trên môi trường số. Ngoài ra, các thủ tục liên quan đến việc gỡ bỏ hành vi xâm phạm khi phát hiện vi phạm thường rất khó khăn và kéo dài.

Luật sư Trần Tám cho rằng, các nghệ sĩ trẻ cũng như các nhạc sĩ nói chung cần rút ra bài học kinh nghiệm cho tương lai. Khi đã sở hữu một sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ, dù tự khai thác hay ủy quyền cho bên khác, phải có sự hiểu biết thật rõ ràng. Ngay cả những người có nhận thức tương đối đầy đủ như Nhạc sĩ Giáng Son vẫn có thể gặp rắc rối, huống hồ những trường hợp thiếu kinh nghiệm hơn.

Nếu không tự am hiểu, nghệ sĩ buộc phải thông qua các đơn vị phân phối. Khi đó, cần đặc biệt lưu ý đến những phạm vi được quy định trong hợp đồng.

Thứ nhất là số lượng bản ghi được phép tạo ra.

Thứ hai là các nền tảng phát hành, gồm những nền tảng nào như YouTube, Spotify, iTunes hay Zing MP3.

Thứ ba là phạm vi không gian, tức là phát hành tại Việt Nam hay ở các quốc gia khác.

Thứ tư là thời hạn được phép phát hành trong bao lâu.

Thứ năm là quyền tạo ra các tác phẩm phái sinh. Cần xác định rõ bên phân phối có được phép tách nhạc, tách lời để remix, hoặc tạo các video ngắn trên Shorts, TikTok, Facebook Reels nhằm tăng tính lan tỏa và kéo lượng truy cập cho MV chính hay không. Tất cả những nội dung này đều phải được quy định cụ thể trong hợp đồng.

Ngoài ra, tỷ lệ phân chia doanh thu cũng cần được tham khảo dựa trên các tiền lệ tương tự, chẳng hạn bên phân phối được giữ lại 10%, 15%, 20% hay 30%. Đồng thời, hợp đồng phải quy định rõ quy trình đối soát doanh thu cũng như quyền được kiểm toán (audit) các báo cáo này. Nếu phát sinh sai lệch thì trách nhiệm của các bên sẽ được xử lý ra sao. Việc thiếu những điều khoản như vậy thường dẫn đến bế tắc trong hợp tác, khiến nghệ sĩ tiêu tốn rất nhiều năng lượng.

talkbanquyenamnhac1.jpg

Còn Nhạc sĩ Giáng Son chia sẻ, chị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ vụ việc của mình. Hiện nay, mỗi khi sáng tác xong một ca khúc mới, chị đều gửi ngay cho trung tâm bản quyền để đóng dấu và thường xuyên trao đổi với bạn bè để hiểu thêm về các quy định và quyền liên quan. Vụ việc liên quan đến ca khúc "Giấc mơ trưa" đã kéo dài 5 năm và chị quyết định nhờ luật sư thay mặt mình khởi kiện và làm việc với bên kia thay vì trực tiếp gặp mặt. "Đáng lưu ý là vụ kiện của tôi đã thay đổi đến ba thẩm phán, và mỗi lần thay đổi tôi lại phải trình bày lại từ đầu. Tôi nhận thấy chính các thẩm phán cũng có những hạn chế nhất định về kiến thức bản quyền" - Nhạc sĩ Giáng Son cho biết.

Diễn biến mới nhất là phía BH Media đã nhận sai. Nhạc sĩ cho biết, chị đã quyết định không đòi bồi thường nữa vì thủ tục quá phức tạp: "Để đòi bồi thường vật chất, tôi phải chứng minh thiệt hại thực tế từ kênh YouTube của mình, trong khi BH Media đã khai thác bản thu đó hơn 10 năm và tôi không thể lấy được số liệu để chứng minh họ đã kiếm được bao nhiêu tiền. Còn về thiệt hại tinh thần, tôi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ về tình trạng stress. Điều này khiến tôi thấy mệt mỏi cho nên tôi từ bỏ việc đòi đền bù".​

talkbanquyenamnhac5.jpg

Tuy nhiên, nhạc sĩ cũng cho biết, vì phía BH Media từng tổ chức họp báo lớn với sự tham gia của hàng chục nhà báo để khẳng định chị sai và hiểu nhầm về quyền của mình, nên chị quyết tâm không tha thứ. "Tôi yêu cầu họ phải xin lỗi công khai trên các phương tiện truyền thông. Hiện tại, dù họ đã nhận sai nhưng tôi vẫn chưa biết khi nào vụ án mới được xử lý. Đặc biệt, hiện nay vấn đề này không còn là dân sự thuần túy nữa mà đã chuyển sang hình sự khi người đứng đầu đơn vị đó đã bị khởi tố. Những vi phạm của họ không chỉ đối với cá nhân tôi mà còn liên quan đến Quốc ca và hàng nghìn tác phẩm của các nhạc sĩ khác trong nhiều năm qua. Tôi rất muốn biết kết quả của việc khởi tố này sẽ đi đến đâu, liệu các nghệ sĩ bị xâm phạm quyền lợi có được đền bù thỏa đáng hay không" - Nhạc sĩ bày tỏ.

Chia sẻ kinh nghiệm từ quốc tế, ông Tào Minh Hùng cho biết, ở một số quốc gia khác, vấn đề thực thi về bản quyền được triển khai chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy khởi kiện dân sự và các thủ tục kiện dân sự diễn ra rất nhanh. Thay vì thách thức nhau bằng câu chuyện rằng thời gian kiện tụng kéo dài và tốn kém chi phí, ở một số đất nước, người dân sẵn sàng khởi kiện khi gặp vấn đề về bản quyền. Không ít quốc gia còn có những cơ chế bảo vệ phù hợp với bên chịu thiệt thòi.

“Pháp luật Việt Nam cũng có quy định như vậy. Và rõ ràng, phải có rất nhiều cơ chế để giúp người chủ sở hữu quyền dễ dàng thực thi quyền của mình hơn, chẳng hạn: chi phí cho việc kiện tụng hợp lý, thủ tục được giải quyết một cách nhanh chóng… Khi chúng ta có ý thức bảo vệ quyền lợi của chính mình và sẵn sàng khởi kiện nếu bị xâm phạm, ý thức chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao”, Giám đốc IFPI Tào Minh Hùng chia sẻ.

talkbanquyenamnhac6.jpg

Điều quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, theo Luật sư Trần Tám, trước hết, nghệ sĩ cần hiểu rõ mình đang sở hữu những gì và nhận diện đầy đủ các loại tài sản của bản thân. Tài sản ở đây không chỉ là tài sản trí tuệ mà còn bao gồm cả các tài sản dân sự khác, được hình thành từ chính uy tín và danh tiếng cá nhân của họ.

Luật sư cho biết, chị không nhìn nhận vấn đề này chỉ dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ mà còn theo một phạm vi rộng hơn. Cụ thể, nghệ sĩ có quyền dân sự đối với tên tuổi, danh tiếng của mình, song song với các quyền sở hữu trí tuệ. Chính nghệ sĩ phải là người chủ động nhận diện được những giá trị đó; luật sư không thể làm thay, mà chỉ có thể hỗ trợ thông qua việc đưa ra các tiêu chí để nhận diện.

"Khi xác định rõ những tài sản mình đang sở hữu, nghệ sĩ mới có thể lựa chọn cách thức khai thác tối ưu, tìm được nền tảng phù hợp và đàm phán các điều khoản hợp đồng nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của bản thân trong một môi trường số nhiều biến động như hiện nay. Đó cũng là những điều cốt lõi nhất mà tôi muốn gửi gắm tới các nghệ sĩ" - Luật sư Trần Tám khẳng định.

Có thể bạn quan tâm