Vì sao phải ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân?
Nghị quyết các đại hội lần thứ IX, lần thứ X của Ðảng đã xác định "áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển" và "Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ... Ðiều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập".
Cụ thể hóa nghị quyết đại hội Ðảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: "Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu". Chính phủ đã có Quyết định số 201/QÐ-TTg ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược cải cách thuế, trong đó xác định nghiên cứu xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân để trình QH thông qua vào năm 2007. Việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân là nhằm tăng cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội; hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới. Ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân còn nhằm bảo đảm ổn định nguồn lực cho ngân sách Nhà nước.
Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu xây dựng luật này là: bảo đảm công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Mặt khác, động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất, kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. Việc ban hành và áp dụng thuế thu nhập cá nhân có tính đến những bước đi phù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa có chọn lọc những quy định trong chính sách thuế hiện hành. Ðồng thời, bảo đảm huy động nguồn lực để Nhà nước giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội.
Luật Thuế thu nhập cá nhân gồm bốn chương, 32 điều.
Ðối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế
Dự án luật này quy định đối tượng nộp thuế là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế, bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và cá nhân là chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề.
Ðiểm mới về đối tượng nộp thuế là đưa cá nhân kinh doanh và chủ hộ gia đình sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề hiện đang điều chỉnh tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vào đối tượng điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập cá nhân, vì: các đối tượng này không phải là doanh nghiệp nên việc tiếp tục áp dụng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ không còn phù hợp. Bên cạnh đó, thực hiện động viên bình đẳng thu nhập của cá nhân không phân biệt thu nhập từ kinh doanh hay thu nhập từ tiền lương, tiền công thông qua việc áp dụng chung biểu thuế và cùng được giảm trừ gia cảnh. Quy định như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ðối tượng chịu thuế bao gồm mọi thu nhập của cá nhân không phân biệt nguồn thu nhập (trừ một số khoản thu nhập thuộc đối tượng được miễn thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế). Ðể phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thông lệ quốc tế và căn cứ vào tính chất, đặc điểm nguồn hình thành thu nhập, dự án luật quy định đối tượng chịu thuế được phân thành sáu loại như sau:
- Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là tổng các khoản thu từ kinh doanh trong năm tính thuế trừ đi (-) các khoản chi phí tạo ra các khoản thu đó.
- Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản có tính chất tiền lương, tiền công bằng tiền và không bằng tiền của cá nhân trong năm tính thuế.
- Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là các khoản lãi cho vay; lãi tiền gửi tiết kiệm; lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; lãi trái phiếu trừ trái phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ thuộc đối tượng không thuộc diện chịu thuế; lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh khác mà người nộp thuế nhận được. Ðối với lãi tiền gửi tiết kiệm, thu nhập chịu thuế là phần thu nhập vượt trên năm triệu đồng/tháng (60 triệu đồng/năm).
- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn là chênh lệch giữa giá chuyển nhượng với giá vốn và chi phí có liên quan.
- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là chênh lệch giữa giá chuyển nhượng với giá vốn và các chi phí có liên quan theo từng lần chuyển nhượng, trừ trường hợp chuyển nhượng bất động sản không thuộc diện chịu thuế.
- Thu nhập chịu thuế khác bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng xổ số, trúng thưởng dưới các hình thức khuyến mại, trò chơi có thưởng; thu nhập từ tiền bản quyền; thu nhập từ thừa kế, quà tặng là cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu doanh nghiệp, bất động sản trừ bất động sản là tài sản thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha, mẹ đẻ, cha, mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; ông, bà nội ngoại với cháu nội, ngoại; anh chị em ruột với nhau. Ðối với các khoản thu nhập này chỉ thu thuế phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng/lần phát sinh.
Thu nhập tính thuế
Thu nhập tính thuế là thu nhập áp dụng vào biểu thuế để tính số thuế phải nộp.
Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công trừ đi khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật bắt buộc phải tham gia và khoản giảm trừ gia cảnh.
Thu nhập tính thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn, từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập khác chính là thu nhập chịu thuế đã được nêu ở phần đối tượng chịu thuế nói trên.
Dự án luật quy định hai biểu thuế: Biểu thuế suất lũy tiến từng phần và Biểu thuế suất toàn phần. Cụ thể là biểu thuế lũy tiến từng phần: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công là phù hợp với tính chất của loại thu nhập này, do đây là khoản thu nhập có tính phổ biến, thường xuyên, ổn định của cá nhân trong năm, nên mức thu nhập chịu thuế được xác định theo năm và tạm thu theo tháng. Việc áp dụng thống nhất một Biểu thuế lũy tiến từng phần cho phép động viên bình đẳng giữa các cá nhân có thu nhập từ kinh doanh và cá nhân làm công, ăn lương, giữa người trong nước và người nước ngoài.
Biểu thuế gồm bảy bậc, khoảng cách về thuế suất giữa các bậc là 5%, thuế suất thấp nhất là 5%, thuế suất cao nhất là 35% (Pháp lệnh Thuế thu nhập cao hiện hành quy định thuế suất thấp nhất 10%, cao nhất là 40%).
Biểu thuế suất toàn phần: Áp dụng đối với các loại thu nhập từ đầu tư (lãi tiền cho vay, lãi tiền gửi tiết kiệm, lợi tức cổ phần), thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và các khoản thu nhập khác (tiền bản quyền, trúng thưởng xổ số, khuyến mại, trò chơi có thưởng, thừa kế, quà tặng), cụ thể như sau: Thu nhập từ đầu tư vốn: Lãi cho vay, lợi tức cổ phần và lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh khác, Lãi tiền gửi tiết kiệm vượt trên năm triệu đồng/tháng (60 triệu đồng/năm), Thu nhập từ tiền bản quyền vượt trên 10 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập: Thuế suất là 5%. Thu nhập từ trúng thưởng xổ số, khuyến mại, trò chơi có thưởng vượt trên 10 triệu đồng/giải thưởng, thu nhập từ thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập: thuế suất là 10%. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: thuế suất là 25%.
Ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân phải bảo đảm tính khả thi
Thẩm tra dự án luật này, Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của QH nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, Ủy ban cho đây là vấn đề mới, nhạy cảm, có phạm vi điều chỉnh rộng, điều kiện nước ta còn khác với nhiều nước. Do vậy, việc xây dựng và áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân lần này được xem là bước tập dượt, cần có bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho mọi công dân có cơ hội làm quen dần với loại thuế này; sau thực hiện một số năm sẽ tổng kết, đánh giá để điều chỉnh, bổ sung.
Ủy ban Kinh tế và Ngân sách thấy rằng, những quan điểm, mục tiêu và yêu cầu mà cơ quan soạn thảo đề ra khi xây dựng dự thảo luật đã thể hiện khá đầy đủ mục tiêu và quan điểm chung của Ðảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng, thi hành chính sách thuế thu nhập cá nhân, một chính sách được xây dựng trên tinh thần kế thừa các quy định của Pháp luật Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, nhưng là vấn đề mang tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhiều người trong xã hội cần được nghiên cứu toàn diện, thấu đáo.
Mặt khác, việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân phải bảo đảm tính khả thi; sự đồng bộ của hệ thống pháp luật; sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư, giữa người Việt Nam và người nước ngoài; điều tiết thu nhập hợp lý; đáp ứng yêu cầu hội nhập; thực hiện tiết kiệm, bảo đảm tiêu dùng xã hội phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Ðồng thời cũng có ý kiến cho rằng, ban hành thuế thu nhập cá nhân cần giải quyết đồng thời với chế độ an sinh xã hội, đặc biệt là chế độ trợ cấp người có thu nhập thấp, trợ cấp thất nghiệp...
Trên cơ sở Tờ trình của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của QH, các thành viên Ủy ban Thường vụ QH đã thảo luận, cho nhiều ý kiến vào các nội dung cơ bản của luật, như: đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, thu nhập không thuộc diện chịu thuế, giảm trừ gia cảnh, thuế suất.