Bức tranh làng muối “tối màu”
Từ văn phòng UBND xã Hộ Độ nhìn ra đồng muối chỉ tầm hơn 100 m. Hơn ba giờ chiều, như thường lệ diêm dân từ các thôn xóm ra đồng để thu gom muối. Vậy mà giờ đây, cả cánh đồng chỉ loáng thoáng vài ba người già đang cặm cụi trên đồng.
Ông Phan Đình Hinh, cán bộ xã phụ trách mảng nông nghiệp địa phương, không khỏi xót xa: “Chưa bao giờ cuộc sống người dân làng muối Hộ Độ lại bấp bênh, nan giải như lúc này. Người nông dân nơi khác, nếu mất mùa họ còn trồng được cây lúa, hoa màu, hay đi rừng kiếm thêm, nhưng diêm dân Hộ Độ mất mùa cũng đồng nghĩa trắng tay. Đất nhiễm phèn, chua mặn, lúa không thể trồng được, hoa màu càng không, làm trang trại thì vốn liếng không có. Người làm muối phải tự xoay xở mưu sinh bằng cách bỏ làng đi làm ăn xa”.
Theo thống kê của xã Hộ Độ, diện tích làm muối của xã có 121 ha, nhưng trong chương trình xây dựng nông thôn mới, diện tích làm muối khép kín chỉ còn 50 ha. Tuy vậy, trong vài ba năm trở lại đây diện tích bỏ hoang ngày một tăng cao.
Theo ông Hinh, có nhiều nguyên nhân, trước hết vì không được chăm lo, nâng cấp nên hệ thống cơ sở hạ tầng làm muối xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là tuyến kênh số 1 dẫn nước mặn từ biển vào đang bị hoang hóa dần. Sau một năm bỏ không, sân phơi cát bị thoái hóa, muốn làm tiếp phải đầu tư sân phơi, thống chạt, thay cát đỏ ước tính từ 4-5 triệu đồng/ một sân phơi khoảng 500 m2. Trong khi đó, nguồn đầu tư của địa phương gần như không có.
Bên cạnh đó muối làm ra không thể tiêu thụ được nên sản lượng ngày một thấp hơn. Giá cả quá bấp bênh, người làm muối phải tự sản xuất tự mang đi bán, không có doanh nghiệp nào đứng ra mua, nên lại càng khó khăn hơn. Nhiều gia đình chấp nhận làm muối là để duy trì sân phơi, giữ nghề truyền thống cha ông, chứ thực chất không có lãi. Đó cũng là lý do thanh niên, người trong độ tuổi lao động bỏ làng đi làm ăn xa.
Lối ra còn xa vời

Tuyến kênh N1 dẫn nước mặn vào bị xuống cấp nghiêm trọng.
Ông Hinh cho biết, trước thực tế đó, khi quy hoạch lại ruộng muối theo chương trình Nông thôn mới, năm 2010, xã Hộ Độ đã đưa 50 ha vào quy hoạch sản suất muối sạch. Người dân Hộ Độ khi đó mừng vui, hy vọng sẽ phục hồi được nghề muối. Thế nhưng khi đi vào thực tế, đối chiếu theo quy định hỗ trợ của chương trình Nông thôn mới, ghi rõ trong Nghị quyết số 24 của UBND tỉnh Hà Tĩnh, lại nảy sinh những vướng mắc không thể giải quyết được.
Ông Hinh phân tích, nghề làm muối quan trọng nhất là đầu tư hệ thống kênh mương thủy lợi, có ba tuyến kênh, từ kênh chính N1, đến kênh nhánh N2, N3. Trong khi đó, hệ thống kênh mương này được xây dựng từ trước những năm 60 của thế kỷ trước nên hầu hết đã bị hư hỏng, đó là chưa nói đến hạ tầng đồng muối như nền đất, cát, bể lọc bị xuống cấp nghiêm trọng. Muốn nâng cao sản lượng muối, cần phải cải tạo, nâng cấp hệ thống kênh mương và canh xăm lại hạ tầng đồng muối.
Vướng mắc là ở chỗ, hệ thống kênh mương ở xã Hộ Độ, ngoài việc lấy nước vào làm muối cũng chính là kênh xả lũ, vì đặc thù của xã là được bao quanh bốn phía là đê. Do vậy, kênh chính N1 phải rộng tối thiểu từ 3,5m ,sâu 2m, kênh N2 cũng phải rộng 1,5m. Nhưng để đầu tư một km kênh mương chính N1, theo tính toán phải mất ít nhất ba tỷ đồng. Trong khi đó, theo quyết định 24 trong chương trình xây dựng Nông thôn mới, địa phương phải có nguồn đối ứng 30% khi làm kênh mương nội đồng. Tính ra, một km, xã phải bỏ ra khoảng một tỷ đồng. Với 15 km kênh N1, phải bỏ ra 15 tỷ đồng. Đó là một số tiền quá lớn vượt ngoài khả năng của xã. Một bất cập nữa là, chỉ những hộ có diện tích đồng muối một ha trở lên và áp dụng theo mô hình phơi lót bạt mới được hỗ trợ. Ông Hinh cho biết, đa số các diêm dân chỉ có 1-2 sào, nếu điều kiện như vậy, chỉ có khoảng vài ba chục hộ được hỗ trợ.
Trong thời gian qua, chính quyền xã nhiều lần họp mặt bà con diêm dân cùng tìm giải pháp. Trong đó, xã rất đồng tình phương án, dồn điền đổi thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản, trồng rau. Thậm chí, xã ra chính sách hỗ trợ người dân trồng rau cho cọc bê-tông, dây thép gai, nuôi bò từ 3-5 con trở lên hỗ trợ ba triệu đồng/hộ. Nhưng ngặt một nỗi, không phải hộ dân nào cũng làm được. Đồng chua nhiễm phèn, đất hoang hóa trồng rau không năng suất.
Ông Hinh đưa ra một dẫn chứng, nếu nuôi thủy sản cần quy hoạch đất của cả năm hộ, để đủ 0,5 ha như điều kiện tối thiểu, vậy chỉ có một hộ làm, những hộ dân còn lại không còn đất sẽ làm gì?
Bao khó khăn đang hiện ra trước mắt, thách thức người dân Hộ Độ mà chưa có lối thoát. Tình thế càng trở nên nghiêm trọng hơn khi người dân trong vùng lần lượt bỏ làng đi làm ăn xa, tình hình an ninh chính trị, xã hội cũng bị ảnh hưởng bởi thiếu sự quản lý của địa phương.
Thiết nghĩ, điều người làm muối Hộ Độ cần nhất lúc này là một cơ chế hỗ trợ đặc thù của làng nghề, đồng thời mong muốn các doanh nghiệp đứng ra bao tiêu đầu ra cho sản phẩm muối. Còn như hiện tại, không ai có thể nghĩ về một tương lai tươi sáng ở làng muối này.