"Bác cho cháu cái hộp này để đựng kim chỉ"

Bác Hồ với mẹ con cô Lê Hiền Đức,
tháng 6-1956.
Bác Hồ với mẹ con cô Lê Hiền Đức, tháng 6-1956.


Bác Phạm Thị Dung Mỹ, ở số 7, ngõ 56, Pháo Ðài Láng, quận Ðống Ða (Hà Nội), nay đã 74 tuổi, còn có tên là Lê Hiền Ðức. Bác kể:

"Năm 1949, từ Ty Công an Hà Nội, tôi được điều lên Chiến khu Việt Bắc công tác, có nhiệm vụ dịch mật mã và chuyển những bản dịch ấy sang cho Bác Hồ. Tôi ở cách nơi Bác làm việc không xa lắm. Lần đầu tiên được giao nhiệm vụ đưa báo cáo sang cho Bác, thật là hồi hộp. Vừa qua cổng gác, đang mải mê nhìn tổ chim trên cây cao, bỗng thấy một ông cụ khoác chiếc áo ka ki, khăn quàng buông qua cổ, từ phía trước đi lại, tôi kịp nhận ra và bối rối: Bác Hồ! Bác hiền từ nhìn tôi, hỏi: "Cháu đi đâu"? Tôi thưa: Cháu đưa báo cáo sang nộp Bác ạ. Bác hỏi chuyện về gia đình, công việc, rồi bảo: "Ði từ sáng đến giờ chắc đói rồi, trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về". Trưa hôm ấy, tôi được ăn bữa cơm thật ngon miệng. Cơm gạo đỏ bốc hơi nghi ngút, có tôm khô rim nước mắm, canh rau muống đựng trong ống  bương. Các anh cùng ăn bảo, rau muống Bác Hồ trồng đấy. Ít lâu sau, tôi được sang làm việc gần Bác. Bác làm việc ở lán riêng, thường tự đánh máy lấy. Nhiều hôm, hết giờ làm việc, Bác ra sân đánh bóng chuyền với mọi người, vui lắm. Năm 1951, cơ quan chọn một số cán bộ trẻ gửi ra nước ngoài đào tạo. Tôi cũng có tên trong danh sách, nhưng không muốn đi. Biết được điều ấy, Bác cho gọi lên hỏi. Tôi thưa:

- Cháu muốn ở lại công tác ạ.

- Thế cháu có muốn công tác thật tốt không ?

- Thưa Bác có ạ.

- Có muốn phục vụ nhân dân được tốt không ?

- Có ạ.

- Thế thì phải đi học. Bây giờ có điều kiện thì phải học tập. Học để hiểu nhiều, biết nhiều mới công tác tốt được.

Tôi vâng lời. Bác lại dặn: Ði học phải chịu khó đấy nhé, chưa hiểu thì hỏi, không được giấu dốt. Ðã hiểu rồi thì bảo lại cho bạn bè cùng hiểu. Thế rồi Bác lấy cái hộp đựng thuốc lá, bỏ hai điếu thuốc còn lại ra, đưa cho tôi: "Bác cho cháu cái hộp này để đựng kim chỉ, có cái để may vá, thêu thùa. Con gái phải biết làm những công việc đó". Tôi cầm chiếc hộp trong tay, vô cùng xúc động và thầm nghĩ "Bác có tấm lòng như một người mẹ hiền, cho nên mới nghĩ đến cho con gái những điều như thế".

TỪ nước ngoài về, tôi được phân công dạy học ở Việt Bắc, đến năm 1954 thì được về tiếp quản thủ đô. Những lời Bác dặn, tôi không bao giờ quên, nhất là cái hộp, luôn giữ bên mình. Thật bất ngờ, tôi lại được gặp Bác. Tháng 6-1956, Người đến thăm trại hè "Cải cách giáo dục" của giáo viên TP Hà Nội ở Trường Chu Văn An. Nghe tin Bác đến, cả hội trường náo nức hẳn lên, ai cũng muốn tìm chỗ đứng để được gần Bác nhất. Còn tôi thì lòng bồn chồn đến lạ, vừa mới sinh cháu hơn ba tháng, vẫn bế cháu theo. Nhìn Bác vẫy tay chào mọi người bước lên bục nói chuyện mà nước mắt cứ thế là trào ra. Nói chuyện xong, Bác bước xuống đi lại phía tôi, hỏi: "Cháu Ðức đó à". Xúc động đến run lên, tôi không nói được lời nào. Bao nhiêu năm rồi, phải lo toan biết bao công việc mà Bác vẫn nhớ một con người bình thường như tôi. Thấy tôi bế cháu nhỏ, Bác hỏi: "Cháu đã đầy năm chưa, chú ấy công tác ở đâu"? Tôi ấp úng: Thưa bác cháu mới được ba tháng, nhà cháu là bộ đội ạ. Vâng lời Bác, cháu đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho để đựng kim chỉ, cháu vẫn giữ. Bác cười: "Thế bây giờ đã khâu vá giỏi chưa? Làm cô giáo còn phải dạy cho học trò biết nữa đấy". Bác âu yếm vuốt má cháu bé, động viên tôi cố gắng dạy tốt, chăm lo việc nhà. Mười ngày sau, bên Phủ Chủ tịch gửi tặng tôi bức ảnh Bác đang âu yếm vuốt má cháu bé, con tôi.

Cái hộp, rồi bức ảnh do Phủ Chủ tịch gửi tặng là hai kỷ vật tôi luôn luôn giữ gìn, nâng niu. Tôi nghĩ nó không còn là của riêng mình, đó là hiện vật quý, thể hiện lòng nhân ái bao la của Bác đối với dân, với mỗi người bình thường như tôi".

Có thể bạn quan tâm