Đọc sách:

Âm vang "Một thời hoa lửa"

"Một thời hoa lửa” là cuốn sách do NXB Trẻ và Ðài Truyền hình Việt Nam phối hợp xuất bản 12-2005. Cuốn sách được hoàn thành sau cuộc giao lưu của hơn 5.000 sinh viên Hà Nội với hơn 1.000 cựu chiến binh từng chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị, lãnh đạo tỉnh, thị xã và nhân dân Quảng Trị qua cầu truyền hình Một thời hoa lửa do Ðài Truyền hình Việt Nam và Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel tổ chức vào đêm 31-10-2005.

Qua những ý kiến, tâm sự, trò chuyện tại buổi giao lưu, những dòng thư, trang nhật ký, bài viết của các liệt sĩ, cựu chiến binh và người thân của họ, người đọc được trở về những năm tháng khốc liệt, hào hùng nơi mảnh đất này; hiểu sâu sắc tâm hồn và ý chí của những con người đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc.

Nằm vị trí xung yếu ở miền trung Việt Nam, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) Quảng Trị là ranh giới giữa hai miền nam - bắc với dòng Bến Hải như vết dao cứa vào lòng đất nước. Ðây là vùng chiến thuật 1, tập trung số lượng lớn lính và vũ khí của quân đội Việt Nam Cộng hòa, Mỹ đã xây dựng hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra để chặn đường giải phóng của bộ đội miền bắc. Từ năm 1968, quân giải phóng chọc thủng hàng rào điện tử, giành những chiến thắng tại đường 9 Nam Lào, Khe Sanh và ngày 1-5-1972 giải phóng thị xã Quảng Trị. Nguy cơ thất bại trên toàn vùng 1 chiến thuật khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa lo ngại. Ðồng thời, việc kiểm soát được Quảng Trị cũng là một lợi thế để gây sức ép ngoại giao tại Hội nghị Pa-ri dự kiến mở lại vào ngày 13-7-1972. Vì vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn quyết tâm thực hiện kế hoạch tái chiếm Quảng Trị, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tập trung vào đây mọi lực lượng tinh nhuệ dưới sự hỗ trợ tối đa của quân lực hải quân và không quân Hoa Kỳ.

Chủ trương của chúng ta lúc đó là phải giữ vững vùng giải phóng, tiếp tục đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", buộc Mỹ phải hiệp thương với ta ở Hội nghị Pa-ri. Ðại tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu trưởng, nguyên Tư lệnh chiến dịch, từng nhận xét: "Chưa bao giờ quân sự kết hợp với ngoại giao mật thiết như vậy". Chủ trương chiến lược của hai bên đã hình thành nên vai trò của địa danh này. Vào thời điểm đó, những dòng tin tức trên thế giới hằng ngày đều đưa tin về thành cổ Quảng Trị.

Ngày 6-9-1971 đã đi vào lịch sử của sinh viên Hà Nội, với gần 10.000 sinh viên chia tay gia đình, bè bạn, thầy cô và thủ đô thân yêu để lên đường. Có cả những người thầy cũng sẵn sàng rời bục giảng, vợ con ra đi như các thầy Nguyễn Trung Thu (Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, tác giả bài thơ “Ðêm Trường Sơn nhớ Bác” được nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc), Bùi Minh Tâm (Trường đại học Xây dựng)... Biết bao chàng trai tài hoa như Nguyễn Văn Thạc (sinh viên Trường đại học Tổng hợp, tác giả nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi), Hoàng Tích Minh (sinh viên Trường Mỹ thuật, con trai họa sĩ Hoàng Tích Chù, một trong những đại thụ của nền hội họa Việt Nam), Nguyễn Kỳ Sơn (Trường đại học Thủy lợi)... và rất nhiều, rất nhiều những người lính trẻ đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây, ở lứa tuổi thanh xuân tươi đẹp. Những bài thơ, những dòng thư, dòng nhật ký của họ còn  đọng lại niềm xúc động sâu xa trong lòng người.

Ở đó, bên cạnh những tâm sự yêu thương, nhung nhớ người thân, gia đình, bè bạn, luôn ngời sáng ý chí quyết tâm sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc. Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, quê Thái Bình, sinh viên Trường đại học Xây dựng có những dòng thư thật cảm động gửi bố mẹ, anh chị em trong gia đình và người vợ trẻ. Trong đó, anh đã thấy trước ngày chiến thắng và cả sự hy sinh của mình bằng tâm thế chủ động, điềm tĩnh. Ðó chính là tư thế, chân dung tinh thần cao đẹp của những con người sẽ tất yếu làm nên chiến thắng. "Thôi nhé mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau". Lời động viên mẹ hiền cũng chính là lời tuyên thệ thiêng liêng của người chiến sĩ sẵn sàng hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc.

Từ 28-6 đến 16-9-1972, địch đã sử dụng tối đa hỏa lực không quân và pháo binh hòng nghiền nát Quảng Trị. "Mỗi ngày địch quẳng xuống  mảnh đất Quảng Trị này chừng 3.000 - 4.000 tấn bom B52, chừng vậy nữa bom của các loại máy bay chiến đấu phản lực khác và chừng 20.000 quả đạn đại bác các loại từ 105-203mm. Quảng Trị ngập trong khói bom." (Trích nhật ký của Trần Quốc Hưng, cựu sinh viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội II, chiến đấu tại Quảng Trị từ ngày 13-4-1972).

Trong hơn hai tháng, khối lượng bom đạn đã trút xuống thị xã Quảng Trị và vùng chung quanh tương đương bảy quả bom nguyên tử đã tàn phá hoàn toàn thành phố Hirosima năm 1945 (theo bài “Vững bước tiến lên với tinh thần vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, diễn văn của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đăng trên báo Nhân Dân ngày Quốc khánh 2-9-1972). Sự khốc liệt của chiến trận nơi đây được cảm nhận sâu sắc qua những dòng nhật ký của liệt sĩ Kỳ Sơn: "Thời gian không được tính bằng giây phút mà nó lại được tính bằng lần pháo kích hoặc lần B52. Nhiều khi mình cảm tưởng như nửa giờ đồng hồ lại có một lần khai sinh mới".

Trong những ngày đêm gian khổ, ác liệt ấy, bộ đội ta đã chiến đấu kiên cường, "giành giật với địch từng khu vực mục tiêu, từng căn nhà, bức tường, đống gạch đổ nát, góc thành, công sự hầm hào, không chịu lùi bước trước quân thù". (Thiên anh hùng ca về lòng dũng cảm, bài viết của Trung tướng Sùng Lãm, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320B, báo Nhân Dân, 16-9-2002). Ðêm 16-9, toàn bộ lực lượng còn lại của chúng ta đã rút về phía sau để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Hơn 30 năm qua, biết bao người cha, người mẹ, người thân đau đáu niềm mong ước tìm được hài cốt những chiến sĩ năm xưa. Hàng nghìn liệt sĩ vô danh còn nằm lại nơi nghĩa trang Thành cổ. Thịt xương, linh hồn họ đã hóa thân vào cỏ cây, sông núi, để lại niềm tiếc thương, cảm phục, tự hào trong lòng người ở lại:

Ðồng đội tôi trong chiến dịch 72
Xương thịt nhiều hơn đất đai Thành cổ
Bao người lính ra đi không về nữa
Ðể đất này mãi mãi màu xanh

(Trích “Quảng Trị - những ngày đầu”, Lê Xuân Tường, cựu sinh viên Trường đại học Xây dựng, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 101,  Sư đoàn 325).

Có biết bao nhiêu kỷ niệm đáng nhớ trong những ngày oanh liệt ấy, về sự sống và cái chết, về tình đồng chí, đồng đội, nỗi nhớ thương gia đình, bè bạn, người thân... được ghi lại hết sức chân thật, cảm động. Ðặc biệt, những bức ảnh của phóng viên chiến trường Ðoàn Công Tính đã góp phần tái hiện khung cảnh chiến trường ác liệt cùng hình ảnh dũng cảm, lạc quan của bộ đội; những bài thơ viết trong khói đạn của các chiến sĩ-nhà thơ trẻ như Lê Bá Dương, Nguyễn Kỳ Sơn, Ðào Chí Thành... cho người đọc càng thêm yêu mến vẻ đẹp tâm hồn bình dị, giàu tình yêu thương của họ. Cuộc chiến đấu vì vậy thật gian khổ, cam go mà không kém phần lãng mạn, hào sảng.

Hằng năm, vào ngày 27-7, cựu chiến binh Lê Bá Dương (Sư đoàn 320) vẫn về sông Thạch Hãn thả hoa tưởng nhớ đồng đội. Nhiều người dân Quảng Trị cũng làm như thế, ở cả những dòng sông khác. Trường đại học Kinh tế quốc dân xây phòng tưởng niệm các sinh viên hy sinh ở Quảng Trị. Các cá nhân, đoàn thể, hội cựu chiến binh cả nước tiếp tục công việc kiếm tìm hài cốt đồng đội.  Những việc làm ấy thật đáng quý, thể hiện nghĩa cử đẹp đẽ của những người hôm nay với đồng đội, người thân đã hy sinh, với mảnh đất họ từng một thời hiến dâng tuổi trẻ. Tình đoàn kết, thương yêu chính là sức mạnh làm nên chiến thắng, như Anh hùng LLVT Mai Ngọc Thoảng xúc động thốt lên trong buổi giao lưu: "Tôi muốn nói với những người đồng đội rằng chúng ta đã rất yêu thương nhau. Và chính vì yêu thương nhau chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ của mình."

81 ngày đêm oanh liệt trên chiến trường Quảng Trị. Những tấm lòng đồng đội hội ngộ sau 33 năm trời xa cách. Niềm đồng cảm, trân trọng kính yêu của những trái tim tuổi trẻ hôm nay với thế hệ cha anh... Tất cả được bộc lộ chân thực và tràn đầy xúc động qua từng trang sách. Năm tháng có thể qua đi nhưng không thể xóa nhòa tất cả. Một thời hoa lửa của dân tộc hôm qua sẽ mãi còn âm vang, là di sản tinh thần quý giá, là nguồn sức mạnh cổ vũ lớn lao cho tuổi trẻ hôm nay tiếp tục phấn đấu vươn lên, như lời tâm sự của chiến sĩ Nguyễn Thành Trung (Quảng Ninh): "Ðọc những trang lịch sử hào hùng của dân tộc qua các cuộc chiến tranh chống xâm lược, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của thế hệ cha anh, như anh Thạc, chị Trâm và các cô chú trong mùa hè đỏ lửa ở thành cổ Quảng Trị, chúng cháu thật tự hào về thế hệ cha anh, một thế hệ đã không tiếc máu xương của mình để giành độc lập, tự do và sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Càng tự hào bao nhiêu thì những người lính hôm nay cần phải học tập, rèn luyện nhiều hơn nữa, sẵn sàng tay súng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm