50 năm, điều lắng đọng

Đầu tháng 7-2008, anh Tăng Văn Phả, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam lên Báo Nhân Dân làm việc. Anh Đinh Thế Huynh, Tổng Biên tập (nay là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư) gọi tôi lên cùng tiếp khách quý. Trong câu chuyện, Đại tá Phả (Anh Phả nguyên là Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Hà Nam) giọng chợt trở nên trang nghiêm: “Có chuyện này, tôi muốn đề xuất với các ông. Ở Hà Nam có một câu chuyện rất cảm động, cảm động không kém gì chuyện mười cô gái hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc. Có điều, những người biết đến chuyện này còn ít quá”.

Miếu thờ 10 nữ dân quân phòng không Lam Hạ đã anh dũng hy sinh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ tại xã Lam Hạ (nay là phường Lam Hạ, TP Phủ Lý, Hà Nam).
Miếu thờ 10 nữ dân quân phòng không Lam Hạ đã anh dũng hy sinh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ tại xã Lam Hạ (nay là phường Lam Hạ, TP Phủ Lý, Hà Nam).

Câu chuyện mà Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam hôm ấy kể khá dài, nhưng tóm lược thế này: Cách Thủ đô Hà Nội chưa đầy 60 km, thị xã Phủ Lý bấy giờ, Lam Hạ bấy giờ cũng là một ngã ba. Tuyến quốc lộ 1A chạy qua Ninh Bình rồi vào nam, đường 21 xuôi Nam Ðịnh, có tuyến đường sắt chạy song song. Tại ngã ba ấy, cầu Phủ Lý, ga Phủ Lý trở thành một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền bắc đối với chiến trường miền nam. Hàng trăm tấn bom của đế quốc Mỹ đã dội xuống nơi đây. Tham gia lực lượng bảo vệ cầu và ga Phủ Lý có Trung đội nữ dân quân thuộc Đại đội phòng không nhân dân xã Lam Hạ. Họ vừa độc lập tác chiến, vừa chiến đấu trong đội hình bộ đội chủ lực. Các chị được phân công ở các vị trí chiến đấu khác nhau như pháo thủ, tiếp thương, tiếp đạn, yểm trợ bằng súng trường.

Tháng 10-1966, tại trận địa pháo làm nhiệm vụ bảo vệ cầu Phủ Lý, thuộc xã Lam Hạ, máy bay Mỹ nhiều lần điên cuồng trút bom hòng đánh sập cầu và lực lượng bộ đội pháo cao xạ, dân quân của ta. Trong những trận ném bom dữ dội ấy, nhiều cán bộ, chiến sĩ, dân quân đã anh dũng hy sinh, trong đó có mười cô gái tuổi đời còn rất trẻ. Họ mới mười tám, đôi mươi, và cô trẻ nhất mới 16 tuổi.

Đúng là Đồng Lộc thứ hai! Sao có sự trùng hợp đau thương, bi tráng đến vậy? Tổng Biên tập Đinh Thế Huynh bảo tôi: “Sắp tới ngày 27-7, ông nên về Hà Nam sớm, hỏi chuyện kỹ và viết về sự kiện này. Nhiều chuyện bất ngờ và cảm động đấy”.

Thoắt đã gần 10 năm rồi. Ngày ấy, Bí thư Thành ủy Bùi Thị Minh Hoài (nay là Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Chủ nhiệm UBKT T.Ư), Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý Đỗ Văn Sáng sốt sắng cử người đưa chúng tôi về Lam Hạ. Gọi là tìm về trận địa cũ, nhưng nay chẳng còn dấu tích gì của chiến tranh. Những hố bom năm xưa nay đã thành ao, thành hồ, thành những khu vườn nức hương ổi chín. Chứng tích chiến tranh cũng chẳng còn gì, ngoài một quả bom treo trên cây làm… kẻng.

“Đường” vào nhà ông Nguyễn Văn Thăng, anh trai của hai chị em ruột, liệt sĩ Nguyễn Thị Thu và Nguyễn Thị Thi phải qua một hồ nước lớn. Ông Thăng cho thuyền ra đón khách. Năm đó, bà mẹ chị Thu và Thi đã gần 100 tuổi, còn minh mẫn. Nhắc tới hai con gái hy sinh, giọng mẹ nghẹn ngào: “Các bác hỏi các em nó à? Ngoan lắm, khi mất, cô chị 19, cô em 16... Suốt ngày ở ngoài bãi pháo. Thỉnh thoảng đảo về nhà, ôm hết quần áo cũ ra để lau súng. Khổ, bom đạn như xóc ốc, mà hai đứa lúc nào cũng dặn: Con không chết đâu! Con chỉ lo cho bu thôi!”. Sau lần trò chuyện ấy, mấy năm sau mẹ thanh thản ra đi. Nhớ về Lam Hạ, tôi không bao giờ quên được ánh mắt thật sáng, thật nhân từ của người mẹ hai nữ liệt sĩ!

Gặp mẹ và những người thân trong gia đình các chị Thu và Thi, rồi ra trụ sở UBND xã Lam Hạ. Các anh lãnh đạo đều còn trẻ, là học trò của cô giáo Phương và cô giáo Oánh, hai trong số mười nữ liệt sĩ. Ký ức tuổi học trò đã như những vầng sáng xa mờ cuối chân trời. Trò chỉ nhớ cô giáo xinh và hiền lắm. Cô giáo Oánh khi hy sinh mới lấy chồng được mấy tháng. Sau này, anh Trắc chồng cô là chiến sĩ bộ đội phòng không cũng anh dũng hy sinh ngay tại trận địa.

Hỏi nguyện vọng của cán bộ và nhân dân xã nhà, các anh đều bày tỏ: Nơi đây xứng đáng được xây dựng Đền thờ và Khu tưởng niệm mười cô gái Lam Hạ. Bởi nhân dân cả nước đã biết đến huyền thoại về mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, 13 cô gái Truông Bồn. Ở những nơi này đều đã được xây dựng Khu tưởng niệm, xây cất Tượng đài và khu mộ các anh hùng liệt sĩ. Còn Lam Hạ chỉ mới có Nhà bia tưởng niệm nhỏ, do nhân dân thôn Đình Tràng đóng góp xây dựng, với tấm bia khắc chữ vàng nổi bật: “Trận địa phòng không Quyết thắng, thôn Ðình Tràng, xã Lam Hạ Anh hùng”.

Thế rồi, rất cần sự đánh giá công bằng, sự tôn vinh xứng đáng đối với mười nữ dân quân Lam Hạ. Sự hy sinh của họ vô cùng anh dũng. Hành động của họ vô cùng cao thượng. Có chị hy sinh ngay trên mâm pháo. Chị Thi được đưa về bệnh viện dã chiến cấp cứu, không có thuốc gây mê vẫn dũng cảm để bác sĩ cưa chân trái đã bị mảnh bom tiện gần đứt rời. Trong cơn đau đớn cùng cực, chị vẫn nghiến răng dặn lại người anh trai : “Em bị thương nhẹ thôi. Anh đừng lo... Hãy về vị trí chiến đấu trả thù cho hai chị em!”.

Những tấm bia được dựng vội trong ngày chiến tranh. Máu xương các chị, các anh đã hòa vào đất đai, miền đất thiêng sông Châu - núi Đọi. Những tấm bia không khép lại quá khứ mà mở về tương lai, nói với người sau bao câu chuyện non sông, đất nước, quê hương, về những người dân quân tay cày, tay súng.

Báo Nhân Dân đã đăng bài phóng sự “Khúc tráng ca bên dòng sông Châu” vào dịp cuối tháng 7-2008. Và rồi sau đó nhiều tờ báo, đài phát thanh, truyền hình tiếp tục viết bài, phát sóng về mười cô gái anh hùng của chúng ta. Lam Hạ dần trở nên một cái tên thân thiết, một biểu tượng chiến thắng bên sông Châu. Nhiều đoàn khách từ khắp mọi miền đất nước tìm về Lam Hạ. Từ đây, người ta đặt cho mảnh đất này những cái tên mới: “Đồng Lộc của Hà Nam”; “Lũy thép sông Châu”; “Huyền thoại đồng chiêm”,...

Một năm sau, năm 2009, UBND tỉnh Hà Nam đã khởi công xây dựng Đền thờ các Anh hùng liệt sĩ và di tích lịch sử văn hóa tại khu vực trận địa pháo phòng không 37 ly, thôn Đình Tràng, xã Lam Hạ. Công trình có diện tích quy hoạch 18,7 ha, chia làm ba khu: Khu bảo tồn; khu tái hiện di tích và khu tôn tạo với nhiều hạng mục công trình như: các trận địa pháo phòng không, hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn, ụ chiến đấu; Đền thờ Bác Hồ và các Anh hùng liệt sĩ; Miếu thờ mười nữ dân quân Lam Hạ… Nghĩa trang liệt sĩ xã Lam Hạ có hơn 100 ngôi mộ. Trong đó có mười nữ dân quân, với những cái tên mộc mạc, thân thương: Thu - Thi - Tâm - Tuyết - Lan - Phương - Thuận - Thẹp - Chung - Oánh.

Ngã xuống nơi này không chỉ có mười cô gái anh hùng. Vâng, còn nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội, đặc biệt là những chiến sĩ phòng không dũng cảm. Hoa trắng trên mộ các chị, các anh đêm đêm vẫn ngát hương trăng. Họ bên nhau và hát vang khúc tráng ca một thời máu lửa!

Điều gì đã làm nên chiến thắng? Dân tộc ta, nhân dân ta đã trả lời. Và chính kẻ bại trận cũng đã cay đắng trả lời. Nhưng khi đến Đồng Lộc, Truông Bồn, Lam Hạ, tôi thường nghĩ một điều giản dị: Thế hệ con cháu Bà Trưng, Bà Triệu đã làm nên những điều phi thường bằng chính tiếng hát của thế hệ mình- tiếng hát giữa hai đầu trận đánh, giữa hai đợt bom rơi. Và rất có thể đó là tiếng hát cất lên lần cuối cùng.

Điều lớn lao thường luôn tự giấu mình.

Nhưng lịch sử thì đừng bao giờ lãng quên!

Có thể bạn quan tâm