Y học bào thai Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế

Không chỉ dừng lại ở chẩn đoán, y học bào thai tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển chuyên sâu với nhiều kỹ thuật can thiệp hiện đại giúp cứu sống thai nhi mắc dị tật nặng, mở ra cơ hội chào đời khỏe mạnh cho nhiều em bé tưởng chừng không thể cứu chữa.

Thầy thuốc nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương phát biểu tại hội nghị.
Thầy thuốc nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương phát biểu tại hội nghị.

Trong 2 ngày 28-29/5, tại Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương tổ chức Hội nghị thường niên Y học Bào thai lần thứ IV. Đây là sự kiện khoa học đỉnh cao, có quy mô và uy tín bậc nhất trong lĩnh vực y học bào thai tại Việt Nam, thu hút sự tham dự của hơn 500 đại biểu là các chuyên gia, nhà khoa học, bác sĩ lâm sàng và các nhà quản lý y tế hàng đầu trong nước và quốc tế, trong đó có các diễn giả danh tiếng đến từ Pháp, Bỉ, Hồng Kông (Trung Quốc) và Trung Quốc.

​Y học bào thai sẽ là một trong những chuyên ngành mũi nhọn

Kỹ thuật can thiệp bào thai được triển khai tại Việt Nam những năm qua đã giúp thay đổi đáng kể tiên lượng của nhiều trường hợp dị tật thai nhi. Nếu không được can thiệp, nhiều thai nhi có thể tử vong trong tử cung hoặc sinh ra với tổn thương nặng nề ở não, tim, gan, phổi, thận… ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và khả năng hòa nhập cộng đồng.

Theo Thầy thuốc nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, y học bào thai hiện nay không chỉ dừng lại ở việc chẩn đoán mà đã có những bước tiến vượt bậc trong điều trị và can thiệp nhằm cứu sống thai nhi, bảo vệ tương lai của các em ngay từ trong bụng mẹ.

Mỗi trường hợp dị tật được phát hiện sớm, mỗi thai nhi được can thiệp kịp thời chính là thêm một cơ hội cho một em bé khỏe mạnh được chào đời, cho một gia đình được hạnh phúc và cho xã hội có thêm những công dân khỏe mạnh trong tương lai.

Việt Nam hiện đã có những trung tâm thực hiện được các kỹ thuật khó nhất trong can thiệp bào thai như: Hội chứng truyền máu song thai, song thai biến chứng Type 3 (thai chậm tăng trưởng có chọn lọc trong tử cung với mức chênh lệch cân nặng giữa hai thai lớn từ 30% trở lên ở giai đoạn sớm của thai kỳ), các dị tật bất thường lồng ngực bẩm sinh, u mạch nhau hoặc hội chứng tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh.

Đối với các ca bệnh phức tạp này, thay vì thế bị động trước đây, việc tự chủ và phối hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật chuyên sâu như: Đặt ống dẫn lưu (shunt), truyền máu chuyển đổi hoặc can thiệp laser quang đông... đã giúp bảo vệ các cơ quan nội tạng quan trọng, kéo dài tuổi thai thành công và mang lại cơ hội sống khỏe mạnh cho trẻ.

Theo Giáo sư Nguyễn Duy Ánh, tại Việt Nam, tỷ lệ cứu sống được ít nhất một thai nhi trong các ca mắc biến chứng truyền máu song thai bằng phương pháp laser quang đông, hiện đã đạt từ 85% đến trên 90%, tương đương với năng lực các trung tâm y học bào thai lớn trên thế giới.

Song song với việc duy trì tỷ lệ điều trị thành công ở các nhóm bệnh lý thường gặp, các bệnh viện cũng đang tiếp tục mở rộng phạm vi ứng dụng thông qua việc phối hợp liên chuyên khoa để xử trí các ca dị tật bẩm sinh phức tạp khác như: Bất thường lồng ngực bẩm sinh, u mạch nhau hoặc hội chứng tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh. Những thành tựu nội sinh này là tiền đề quan trọng để sản khoa tuyến trung ương tiếp tục hướng tới tiếp nhận và triển khai các kỹ thuật đỉnh cao.

Đánh giá cao vai trò là bệnh viện đầu ngành sản phụ khoa của cả nước, bà Đào Hồng Lan, Bộ trưởng Y tế đánh giá, Bệnh viện Phụ sản Trung ương luôn giữ vai trò tiên phong trong ứng dụng kỹ thuật hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển chuyên ngành sản phụ khoa Việt Nam. Đặc biệt, Trung tâm Y học Bào thai của bệnh viện đang từng bước khẳng định vị thế là trung tâm chuyên sâu hàng đầu khu vực, tiếp cận nhiều kỹ thuật tiên tiến của thế giới.

z7877722086236-93c236c5b010f153fcfb81d3b8a28fee.jpg
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan phát biểu tại hội nghị.

Bày tỏ vui mừng khi thấy cộng đồng chuyên môn về y học bào thai tại Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có sự kết nối chặt chẽ với các trung tâm hàng đầu trên thế giới, Bộ trưởng Y tế tin tưởng, trong tương lai gần, việc hình thành Hiệp hội Y học Bào thai Việt Nam sẽ là bước tiến quan trọng nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên môn, chuẩn hóa thực hành lâm sàng và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn cho chuyên ngành còn rất mới mẻ nhưng đầy triển vọng này.

"Trong chiến lược phát triển ngành y tế giai đoạn mới, Bộ Y tế xác định y học bào thai là một trong những chuyên ngành mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển, cùng với y học chính xác, y học di truyền và y học công nghệ cao", Bộ trưởng Đào Hồng Lan nói.

Nâng tầm phối hợp giữa các cơ sở sản khoa trong can thiệp bào thai

Hội nghị diễn ra có 17 bài báo cáo chuyên sâu đỉnh cao. Nội dung tập trung vào các vấn đề trọng tâm và là xu hướng phát triển tương lai của y học bào thai thế giới: song thai và biến chứng song thai, dị tật bẩm sinh và thoát vị hoành, rối loạn nhịp tim thai, kỹ thuật Laser trong can thiệp bào thai và các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu.

Điểm nhấn đặc biệt của hội nghị lần này là có sự tham gia ngày càng nổi bật của các báo cáo viên Việt Nam. Đây là minh chứng rõ nét cho sự trưởng thành vượt bậc về năng lực chuyên môn, khẳng định sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của mạng lưới y học bào thai nước nhà trên bản đồ y khoa quốc tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh nhấn mạnh, để phát triển y học bào thai Việt Nam ngang tầm quốc tế, cốt lõi là phải coi bào thai là một con người, một bệnh nhân thực thụ để chăm sóc, điều trị và cứu chữa.

Chính khát vọng vượt qua giới hạn đó đòi hỏi các bệnh viện sản phụ khoa hàng đầu cả nước - từ Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ở phía Bắc, đến Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương ở phía nam và hệ thống các bệnh viện quốc tế - phải cùng nhau thống nhất, hợp lực hành động để nâng cao chất lượng dân số Việt Nam.

z7877721976747-2cffacad3494d4bd119ac0b60dd143f8.jpg
Toàn cảnh hội nghị.

"Việc kết hợp sức mạnh giữa khối bệnh viện công tuyến trung ương và hệ thống y tế quốc tế được xem là bước đi chiến lược để can thiệp y khoa sớm cho trẻ từ trong bụng mẹ. Mục tiêu cốt lõi của nỗ lực này là nhằm cải thiện chất lượng giống nòi và bảo đảm sức khỏe tối ưu cho thế hệ tương lai. Quy trình phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị y tế lớn sẽ giúp phát hiện và cứu chữa kịp thời các bệnh lý thai nhi vốn trước đây chưa được chú trọng đúng mức", Giáo sư Nguyễn Duy Ánh nhấn mạnh.

Cũng theo Giáo sư Ánh, để nhiều bào thai có bệnh lý được can thiệp kịp thời, các tuyến cơ sở cần được trang bị kiến thức về sàng lọc và chẩn đoán ban đầu để kịp thời phát hiện các trường hợp bất thường và chuyển đến những trung tâm chuyên sâu có đủ điều kiện can thiệp. Đối với thai nhi, việc chậm trễ có thể khiến mất đi “thời gian vàng” để cứu sống hoặc điều trị hiệu quả. Có những trường hợp chỉ cần chậm vài giờ, thai nhi đã chuyển sang giai đoạn không còn khả năng can thiệp.

Việt Nam sẽ tiếp cận nhiều kỹ thuật đỉnh cao trong can thiệp bào thai

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh bày tỏ, trong thời gian tới, các bệnh viện đầu ngành sản phụ khoa cần tiếp tục đầu tư mạnh vào cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo đội ngũ bác sĩ chất lượng cao để tiệm cận trình độ khu vực và thế giới.

Để tiếp tục mở rộng các giới hạn điều trị, nhiều kỹ thuật chuyên sâu và xu hướng y học tương lai đang được nghiên cứu ứng dụng nhằm áp dụng trực tiếp tại Việt Nam. Bên cạnh kỹ thuật FETO đặt bong bóng nội soi khí quản điều trị thoát vị hoành bẩm sinh, ngành sản khoa đang hướng tới triển khai phương pháp phẫu thuật mở tử cung (Open Fetal Surgery) để sửa chữa dị tật nứt đốt sống bẩm sinh ngay trong tử cung và nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc từ dịch ối để điều trị các tổn thương sớm cho thai nhi.

Song song với đà hoàn thiện kỹ thuật, các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành đang phối hợp với cơ quan quản lý xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, hướng tới đưa can thiệp bào thai vào danh mục được Bảo hiểm Y tế chi trả nhằm giảm gánh nặng chi phí cho người bệnh.

"Ngành sản phụ khoa cũng mong muốn Bộ Y tế quan tâm hơn, cho phép triển khai đầy đủ các danh mục kỹ thuật can thiệp bào thai và có cơ chế hỗ trợ phù hợp, bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn rất sâu, sự tận tâm và tinh thần nhân văn rất lớn", Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh đề xuất.

708615563-1304509258495399-8848091760725234004-n-7971.jpg
Toàn bộ quá trình can thiệp bào thai tại Workshop ngày 28/5 được truyền hình trực tiếp tới hội trường để các chuyên gia, bác sĩ cùng theo dõi, trao đổi và thảo luận chuyên môn.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cũng khẳng định, để phát triển y học bào thai một cách toàn diện và bền vững trong thời gian tới, đồng thời thực hiện thành công các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước giao cho ngành y tế trong việc nâng cao chất lượng dân số, Bộ Y tế sẽ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng chính sách, ban hành các quy trình chuyên môn và định mức kinh tế kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ cập các dịch vụ sàng lọc trước sinh, phát hiện sớm các bất thường thai nhi và phát triển các kỹ thuật chuyên sâu.

Bộ trưởng đề nghị các cơ sở khám, chữa bệnh, đặc biệt là các cơ sở chuyên sâu, cần tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong nước và quốc tế; không ngừng nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị bào thai; đồng thời tăng cường phối hợp liên chuyên khoa như sản phụ khoa, di truyền học, chẩn đoán hình ảnh, hồi sức sơ sinh và tim mạch can thiệp nhằm áp dụng hiệu quả các kỹ thuật cao, ít xâm lấn trong chẩn đoán và điều trị thai nhi.

Trong khuôn khổ sự kiện, ngày 28/5 đã diễn ra Workshop thực hành chuyên sâu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đây là diễn đàn mang tính thực tiễn cao, trực tiếp cập nhật các kỹ thuật can thiệp thực tế và tư duy xử trí những ca bệnh phức tạp, hiếm gặp thách thức y học toàn cầu như: thoát vị thành bụng thai nhi, u mạch bánh nhau, hội chứng tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh. Khóa học hướng đến tối ưu hóa năng lực phối hợp liên chuyên khoa và nâng cao chất lượng điều trị trước sinh.

Có thể bạn quan tâm