Xuất khẩu tinh chế, không dễ!

Ai cũng biết là lợi...

Với hơn 23 năm chuyên làm hàng xuất khẩu thủy sản, nông sản, xí nghiệp Cầu Tre dường như có nhiều bài học kinh nghiệm về xuất thô. Nhắc lại giai đoạn ban đầu, một cán bộ cấp quản lý của Cầu Tre kể rằng do năng lực tài chính, cơ sở vật chất lúc đó còn thiếu thốn nên con đường thuận tiện nhất là xuất hàng thô hoặc cố gắng lắm chỉ là sơ chế giản đơn. Đơn cử mặt hàng thủy sản, ông cho biết, con tôm chỉ được rửa sạch, đông lạnh, rồi xuất; hoặc tiến thêm một bước nữa là bóc vỏ lột đầu, tức cũng ở mức sơ chế đơn giản nhất. Sản phẩm xuất nhiều nhưng lợi nhuận mang lại chỉ tính bằng từng đồng ngoại tệ ít ỏi; có lúc khách hàng chủ động giao nguyên liệu, xí nghiệp chỉ còn ăn được phí gia công.

“Bài học mà Cầu Tre rút ra là đi theo hướng đó thì thị trường khá bấp bênh, có năm xuất cao nhưng có năm xuất rất thấp. Xuất thô dễ quá nên ai cũng làm được và vì thế cạnh tranh ngày càng gay gắt!”, vị cán bộ nói trên nhận xét. Ông cho biết, xí nghiệp Cầu Tre thời điểm đó đã chấp nhận đầu tư mạnh để chuyển sang tập trung làm hàng xuất khẩu tinh chế, cả thủy sản, súc sản và nông sản. Và theo ông, hiện xí nghiệp hoàn toàn không còn xuất hàng thô, chỉ khác nhau ở mức độ chế biến, trong đó phần lớn là chế biến sâu (mặt hàng có thể đưa thẳng đến người tiêu dùng tiêu thụ mà không cần phải qua thêm một công đoạn chế biến nào khác).

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó giám đốc Công ty Kinh doanh thủy hải sản APT, hoàn toàn đồng tình rằng xuất khẩu tinh chế sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn. Ông tính toán, tỷ suất lợi nhuận đối với hàng thủy sản xuất thô hoặc sơ chế đơn giản chỉ được chừng 1-2%, trong khi hàng thủy sản qua chế biến sâu có tỷ suất lợi nhuận có thể hơn 5%. Ngoài ra, đơn vị xuất hàng tinh chế còn được lợi ở nhiều loại chi phí khác, thí dụ sẽ giảm bớt được chi phí vận chuyển; cùng tạo ra một giá trị kim ngạch như nhau thì hàng thô phải xuất khối lượng nhiều hơn, kéo theo chi phí vận chuyển nhiều hơn.

Nhưng vì sao?

Dù biết lợi nhiều mặt nhưng hiện vẫn chưa có nhiều công ty hoàn toàn xuất khẩu hàng thủy sản, nông sản qua chế biến sâu. Tại Công ty APT, một doanh nghiệp khá lớn trong lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản, tỷ lệ mặt hàng qua chế biến sâu chỉ chiếm khoảng 20%, còn lại chủ lực vẫn là các mặt hàng sơ chế như mực, tôm tươi làm sạch đông lạnh, cá phi lê đông lạnh... Ông Nguyễn Thanh Sơn nhận định, với đầu tư hiện tại của APT, dư sức để sản xuất hàng thủy hải sản qua chế biến sâu nhưng sở dĩ tỷ lệ các mặt hàng này vẫn chưa cao là do còn nhiều yếu tố bị động về mặt thị trường. Khó khăn trước hết là các mặt hàng chế biến sâu (tẩm ướp gia vị, làm thành món ăn) phải hợp khẩu vị với người tiêu dùng ở nước nhập khẩu. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu và sản xuất theo đặc điểm khẩu vị từng nước, từng thị trường.

Mặt khác, theo ông Sơn, nhiều công ty xuất khẩu thủy hải sản trong nước hiện vẫn chưa thể phân phối trực tiếp đến người tiêu dùng mà phải thông qua đối tác vốn cũng là doanh nghiệp ở nước nhập khẩu. Các doanh nghiệp này nhập hàng thủy hải sản của Việt Nam và tiếp tục chế biến để trở thành sản phẩm cuối cùng với thương hiệu của họ. “Muốn nâng tỷ lệ các mặt hàng chế biến sâu lên nữa đòi hỏi phải có thị trường, có khách hàng. Muốn vậy, công ty phải liên doanh hoặc phải có văn phòng ở nước ngoài để tổ chức được kênh phân phối. Nhưng điều này cần phải có lực”, ông Sơn nói.

Ở lĩnh vực nông sản, hạt tiêu của Việt Nam hiện là mặt hàng nông sản có vị trí xuất khẩu đứng đầu thế giới. Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, cho biết hiện Việt Nam mỗi năm sản xuất khoảng 100.000 tấn tiêu, chiếm 30% sản lượng thế giới, hầu hết đều được xuất khẩu và đã đạt đến 50% thị phần xuất khẩu của thế giới với kim ngạch mang về mỗi năm hơn 150 triệu USD. Ông Nam cho rằng kết quả như vậy là khả quan.

Thế nhưng tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao, tức đã qua chế biến, hiện chỉ khoảng 35%. Đây là số hạt tiêu đã qua xử lý của các nhà máy với các công đoạn làm sạch, bóc vỏ, sàng lọc, đóng bao bì, hút chân không, bảo quản... bảo đảm các yêu cầu về an toàn, vệ sinh theo tiêu chuẩn mà các nước phát triển đề ra. Trong khi đó, 65% số hạt tiêu xuất khẩu còn lại vẫn là “hàng xô” (hàng nguyên liệu thô), chỉ qua lọc lựa thủ công nhằm loại bỏ tạp chất lẫn vào, và tất nhiên, kết quả làm sạch không cao.

Nếu xuất khẩu hạt tiêu qua chế biến, giá xuất khẩu sẽ cao hơn gấp 1,7 lần so với hạt tiêu nguyên liệu thô, tức kim ngạch có thể còn cao hơn nữa. Mặt khác, do chiếm số lượng lớn trong xuất khẩu là hạt tiêu nguyên liệu thô với chất lượng không ổn định, tiêu Việt Nam ảnh hưởng chung đến giá xuất khẩu; giá hạt tiêu Việt Nam vẫn được xem là rẻ trên thị trường tiêu thế giới.

Tuy nhiên, quan điểm của ông Nam có khác. Một mặt đồng tình với việc phải nâng cao thêm chất lượng hạt tiêu nhưng mặt khác ông Nam cũng cho rằng việc xuất khẩu thô hay tinh chế còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố của thị trường. Chẳng hạn về hạt tiêu, ông Nam cho rằng nhu cầu về hạt tiêu chất lượng cao hiện chỉ ở một số nước phát triển với số lượng tiêu thụ có giới hạn. Nếu cố xuất khẩu mặt hàng chất lượng cao này nhiều hơn sẽ làm cung vượt cầu và dẫn đến rớt giá. Trong khi đó, đa số các nước còn lại vẫn tiêu thụ hạt tiêu chất lượng thấp với giá bán rẻ. Nhìn ở góc độ tích cực, chính giá bán hạt tiêu Việt Nam rẻ đã là lợi thế để Việt Nam chiếm lĩnh thị trường này của thế giới như hiện nay.

Có thể bạn quan tâm