Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là định hướng chính trị mang tính nguyên tắc mà còn là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn.
Vẫn còn nhiều thách thức
Thời gian qua, công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực đã đạt được những kết quả rất quan trọng, mang tính đột phá. Hàng loạt vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về kinh tế đã được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh, điển hình như vụ Vạn Thịnh Phát, FLC, chuyến bay giải cứu, Việt Á, Tân Hoàng Minh, Tập đoàn Thuận An, Tập đoàn Phúc Sơn… Đáng chú ý, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao đã bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao. Nhiều vụ việc đã xảy ra từ rất lâu nhưng vẫn bị phanh phui, điều tra, xử lý nghiêm minh, không còn chỗ cho tính toán kiếm chác rồi “hạ cánh an toàn”.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy tình hình còn diễn biến phức tạp, thậm chí có xu hướng tinh vi hơn, lan rộng sang nhiều lĩnh vực như đất đai, đầu tư công, tài chính-ngân hàng, y tế, giáo dục. Hầu hết vụ án lớn đều có sự móc nối công-tư, trong ngoài, không ít cán bộ, đảng viên không giữ được mình, trở thành đồng phạm với những đối tượng vi phạm pháp luật ngoài xã hội. Hệ lụy không chỉ dừng ở thiệt hại vật chất mà còn gây ra những tổn hại về thể chế: làm méo mó môi trường cạnh tranh, cản trở phân bổ nguồn lực hiệu quả, gia tăng chi phí không chính thức và đặc biệt là bào mòn niềm tin của nhân dân đối với bộ máy công quyền, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Một trong những “điểm nghẽn” cốt lõi nằm ở lỗ hổng thể chế và bất cập trong hệ thống pháp luật. Nhiều quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất, tạo ra kẽ hở, bất cập trong áp dụng pháp luật, từ đó phát sinh cơ chế “xin-cho”. Trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, đấu thầu, không ít quy định vừa thiếu rõ ràng vừa trao quyền quyết định lớn cho cơ quan quản lý, nhưng lại thiếu cơ chế kiểm soát tương xứng. Đây chính là môi trường dễ phát sinh lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách. Công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Việc phát hiện vi phạm nhiều khi còn chậm, chủ yếu dựa vào hậu kiểm, thiếu cơ chế giám sát từ sớm, từ xa. Không ít trường hợp vi phạm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, nhiều cấp quản lý không bị phát hiện kịp thời, cho thấy “khoảng trống” trong phối hợp giữa các thiết chế kiểm soát như thanh tra, kiểm toán, kiểm tra Đảng và giám sát của xã hội.
Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi, nhất là ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi. Do đó cần đặt công tác PCTN trong tổng thể chiến lược phát triển bền vững và cách tiếp cận mới: không chỉ nhấn mạnh xử lý vi phạm mà chuyển sang phòng ngừa chủ động, dựa trên nền tảng thể chế hiện đại và quản trị minh bạch.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, dễ thực thi. Mọi “kẽ hở” thể chế đều có thể trở thành “cửa ngõ” cho tham nhũng. Vì vậy, việc rà soát, sửa đổi các luật liên quan đến đầu tư công, đất đai, đấu thầu, tài chính công… cần được tiến hành một cách toàn diện, loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, đồng thời hạn chế tối đa cơ chế xin-cho.
Nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực không chỉ đơn thuần tăng cường thẩm quyền hay chế tài, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức giám sát theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và công nghệ. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, minh bạch hóa thông tin về ngân sách, đầu tư, tài sản công… giúp tăng cường giám sát xã hội và giảm thiểu cơ hội cho hành vi tiêu cực. Hiệu quả của các cơ chế kiểm soát không chỉ dừng ở phát hiện và xử lý vi phạm mà còn chỉ ra được những vấn đề của cơ chế, chính sách cần sửa đổi hoàn thiện, thể hiện tư duy mới từ “phát hiện xử lý sang kiến tạo phát triển”, coi trọng phòng ngừa, cảnh báo sớm, không để có cơ hội phát sinh sai phạm. Việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động, quá trình tổ chức thực hiện, giảm thiểu sự chồng chéo, trùng lặp đang tồn tại trên thực tế những năm qua.
Thực tiễn cho thấy, nhiều vụ việc tiêu cực được phát hiện từ phản ánh của người dân và truyền thông, do đó phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân, báo chí và xã hội và việc bảo vệ người tố cáo, khuyến khích phản ánh tiêu cực cần được thực hiện thực chất hơn, tránh tình trạng hình thức.
Tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển
Một trong những yêu cầu mang tính chiến lược là xây dựng hệ thống thể chế đủ mạnh để đạt được mục tiêu: “không thể”, “không dám” và “không muốn” tham nhũng.
Để “không thể” tham nhũng, cần thiết kế các quy trình quản lý chặt chẽ, minh bạch, có kiểm soát chéo. Thí dụ, trong quản lý đầu tư công, phải tách bạch rõ ràng giữa các khâu lập dự án, thẩm định, phê duyệt và giám sát; đồng thời áp dụng công nghệ số để theo dõi toàn bộ vòng đời dự án. Khi mọi quyết định đều được ghi nhận và có thể truy vết, khả năng “lách luật” sẽ giảm đáng kể.
Để “không dám” tham nhũng, cần duy trì cơ chế xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai. Tính răn đe của pháp luật chỉ được bảo đảm khi mọi hành vi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý tương xứng. Việc tăng cường năng lực của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trong các vụ án kinh tế, tham nhũng là yếu tố then chốt.
Để “không muốn” tham nhũng, cần xây dựng môi trường công vụ lành mạnh, trong đó đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình được đề cao. Cải cách chế độ tiền lương, bảo đảm thu nhập tương xứng cho cán bộ, công chức, cùng với cơ chế đánh giá công bằng, minh bạch, sẽ góp phần giảm động cơ vụ lợi.
Việc xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng đã tạo ra hiệu ứng răn đe rõ rệt. Tuy nhiên, để nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” thật sự trở thành nền tảng bền vững, trong xây dựng pháp luật phải bảo đảm mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, không thiết kế các “ngoại lệ” mang tính đặc quyền. Trong thực thi, cần nâng cao tính độc lập, khách quan của các cơ quan bảo vệ pháp luật, tránh mọi can thiệp không chính đáng. Xử lý các vụ án tham nhũng vừa bảo đảm công khai, minh bạch, để xã hội giám sát vừa tránh kéo dài gây bức xúc và làm giảm hiệu quả răn đe, đồng thời tăng cường thu hồi tài sản tham nhũng bởi đây là một trong những chỉ số phản ánh hiệu quả thực chất của công tác này.
Tâm lý e ngại trách nhiệm, sợ sai, sợ bị xử lý vẫn đang tồn tại ở một bộ phận cán bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và triển khai chính sách. Vậy làm thế nào để vừa kiểm soát quyền lực chặt chẽ vừa không làm triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo?
Để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, trước hết cần thay đổi tư duy nhận thức: không đánh đồng mọi sai sót với vi phạm. Cần phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót phát sinh trong quá trình thử nghiệm, đổi mới vì lợi ích chung. Đây là một yêu cầu mang tính nguyên tắc, cần được thể chế hóa rõ ràng. Đòi hỏi đặt ra là xây dựng cơ chế “an toàn pháp lý” cho cán bộ khi thực hiện thí điểm chính sách mới. Điều này có thể bao gồm các quy định về miễn trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trong trường hợp thực hiện đúng quy trình, đúng thẩm quyền, vì lợi ích chung nhưng kết quả không đạt như mong muốn. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá dựa trên kết quả và động cơ, thay vì chỉ dựa trên hình thức. Và một môi trường khuyến khích đổi mới chỉ có thể hình thành khi người lãnh đạo dám bảo vệ cấp dưới, dám chịu trách nhiệm và tạo không gian cho sáng tạo. Đây cũng là một yếu tố cốt lõi trong xây dựng văn hóa công vụ hiện đại.
Trong bối cảnh đất nước phát triển nhanh và hội nhập sâu rộng, công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và PCTN, lãng phí, tiêu cực đang đứng trước những yêu cầu mới, đòi hỏi triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì và liên tục. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị-xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển.