Trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là “Phương thức quản trị địa phương mới”; phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi, đồng thời lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo cuối cùng... Chỉ dẫn này rất quan trọng để nhìn nhận đúng bản chất, giá trị và cả những đòi hỏi của mô hình mới.
Giảm tầng nấc, vận hành ổn định
Điểm cốt lõi của mô hình không nằm ở chỗ bỏ một cấp hành chính trung gian cho gọn về hình thức. Điều quan trọng hơn là nhờ giảm tầng nấc, chuỗi ra quyết định ngắn hơn, dòng công việc trực tiếp hơn, trách nhiệm rõ hơn và mối quan hệ giữa chính quyền với người dân gần hơn về năng lực giải quyết vấn đề. Lợi thế lớn nhất của mô hình này là tạo điều kiện để chuyển từ kiểu hành chính nặng về trung gian, nhiều vòng xin ý kiến, sang kiểu hành chính gần dân, sâu sát dân hơn, nhanh hơn, rõ người chịu trách nhiệm hơn. Khi cấp tỉnh không còn bị cuốn quá sâu vào xử lý sự vụ hằng ngày, có điều kiện tập trung hơn cho quy hoạch, chiến lược, điều phối nguồn lực, kiểm tra, giám sát và quản trị rủi ro. Khi cấp xã được trao thêm thẩm quyền, công việc vốn trước đây phải qua cấp huyện nay có thể được giải quyết nhanh chóng, ngay tại cơ sở hơn. Đó chính là ý nghĩa thực chất của cải cách.
Thực tiễn bước đầu cho thấy nhận định ấy không phải là lý thuyết. Ở nhiều địa phương, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tác động tích cực tới tinh giản bộ máy, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công; chuyển biến rõ nhất là tác phong và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, với sự gần gũi và tương tác nhiều hơn với nhân dân. Việc tiếp tục rà soát, bổ sung nhân sự, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, ủy quyền rõ người, rõ việc giúp mô hình vận hành ổn định hơn.
Ở xã Ea Bung (Đắk Lắk), mô hình vận hành thông suốt, tình hình an ninh trật tự được bảo đảm, các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội cơ bản đạt và vượt kế hoạch. Đây là một dẫn chứng cho thấy khi bộ máy được tổ chức hợp lý, chính quyền cơ sở có thể phát huy vai trò trực tiếp đối với địa bàn rộng, đa dân tộc, nhiều khó khăn.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào mặt thuận lợi sẽ không phản ánh đúng toàn bộ bức tranh. Chính sức nặng của cuộc cải cách nằm ở chỗ: mô hình mới chỉ phát huy đầy đủ khi đi cùng một “hệ điều hành mới” - tức là phân quyền rõ ràng hơn, nguồn lực đủ hơn, dữ liệu dùng tốt hơn, con người mạnh hơn và cơ chế giám sát chặt chẽ hơn. Nếu không, cấp xã có thể trở thành nơi dồn việc mà chưa đủ điều kiện để xử lý việc.
Nhiều khó khăn, áp lực
Mô hình mở rộng không gian chủ động cho chính quyền cơ sở, nhưng cũng đặt lên vai cấp xã khối lượng công việc lớn hơn rất nhiều. Phát biểu của Tổng Bí thư nêu rõ không thể giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không giao tương xứng về cơ chế, biên chế, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng số và cơ chế giám sát, kiểm tra phù hợp. Vì vậy, phải bảo đảm phương châm: giao quyền đến đâu, bảo đảm nguồn lực đến đó; phân cấp đến đâu, kiểm soát chặt chẽ đến đó; trao nhiệm vụ đến đâu, nâng cao năng lực tương ứng đến đó.
Thực tiễn đang xác nhận rất rõ điều này. Tại Tây Ninh, sau 9 tháng triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành thông suốt, phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp, nhưng vẫn còn những “nút thắt” về nhân lực, tổ chức và phương thức điều hành. Lãnh đạo tỉnh chỉ ra tình trạng thiếu biên chế, bố trí nhân sự chưa theo sát đặc thù từng địa phương.
Ở một số địa phương, bài toán nhân lực cấp xã vẫn là một sức ép hiện hữu. Tại tỉnh Hưng Yên, khối lượng công việc của cấp xã rất lớn với nhiều nhiệm vụ mới, khó, tuy nhiên số lượng phòng chuyên môn, tổ chức hành chính tham mưu giúp việc cho UBND cấp xã chỉ có 4 đơn vị, số biên chế công chức còn thấp dẫn đến không ít áp lực khi triển khai thực thi.
Khó khăn ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa còn rõ hơn. Đơn cử như tại xã Phan Sơn (Lâm Đồng), đến hết năm 2025 vẫn còn khuyết thiếu 3 biên chế, dẫn đến thiếu cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ. Một số lĩnh vực không có chuyên viên chuyên ngành phụ trách như y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, xây dựng, kế toán nên có lúc còn lúng túng, chậm trễ trong công tác tham mưu. Xã Ca Thành (Cao Bằng) thiếu 14 biên chế so với định biên, trụ sở làm việc của Đảng ủy và UBND xã cách xa nhau, thiếu 8 phòng làm việc và thiếu cả thiết bị như máy phô-tô, máy in, máy scan...
Những dẫn chứng nêu trên cho thấy thành công của mô hình không thể chỉ được đo bằng việc bỏ cấp trung gian hay sắp xếp lại đầu mối. Nếu cấp xã không đủ người, thiếu hạ tầng, dữ liệu chưa đồng bộ, phần mềm chậm hoặc nghẽn, cán bộ chưa được đào tạo kịp, thì chính nơi gần dân nhất lại có thể trở thành nơi chịu sức ép lớn nhất. Và khi đó, mục tiêu phục vụ người dân tốt hơn sẽ bị ảnh hưởng.
Đẩy mạnh cải cách, phân cấp, phân quyền
Muốn phát huy đầy đủ ưu thế của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trước hết, phải tiếp tục hoàn thiện phân cấp, phân quyền, ủy quyền theo hướng rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế kiểm tra. Cải cách tổ chức phải đi liền với cải cách cách làm. Nếu chỉ giảm tầng nấc mà không đổi mới quy trình, không chuẩn hóa dữ liệu, không làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế.
Thứ hai, phải coi nâng cao năng lực cấp xã là khâu đột phá của đột phá. Nếu cấp xã là nơi “mạnh về thực thi”, thì con người ở cấp xã phải đủ năng lực để thực thi. Cần tiếp tục rà soát vị trí việc làm, bố trí nhân sự theo khối lượng và tính chất công việc, nhất là ở các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tư pháp, hộ tịch, tài chính, môi trường; đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở. Đây cũng là hướng đang được nhiều địa phương triển khai.
Thứ ba, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng số, dữ liệu và các trung tâm phục vụ hành chính công ở cấp cơ sở. Nơi nào phần mềm không đồng bộ, đường truyền yếu, dữ liệu chia cắt, nơi đó người dân vẫn phải đi lại nhiều, cán bộ vẫn làm thủ công nhiều, hiệu quả cải cách sẽ bị bào mòn. Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả Đề án 06, xây dựng chính quyền số để giảm phiền hà và hạn chế tiêu cực.
Thứ tư, phải có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, địa bàn đặc thù. Yêu cầu đặt ra là chống rập khuôn, máy móc, không thể lấy một khuôn mẫu duy nhất áp cho mọi địa phương vì điều kiện dân số, diện tích, đô thị-nông thôn, miền núi- đồng bằng, quốc phòng-an ninh, mức độ phát triển là rất khác nhau. Với những xã vùng sâu vùng xa, nếu không có cơ chế đặc thù về biên chế, trụ sở, nhà công vụ, thiết bị và hỗ trợ kỹ thuật, rất khó đòi hỏi bộ máy cơ sở vừa tinh gọn vừa làm tốt ngay được.
Sau 9 tháng vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã cho thấy hướng đi đúng. Nhưng chính vì đây là cuộc cải cách về quản trị chứ không chỉ về bộ máy, nên chặng đường phía trước vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Không thể chỉ nhìn vào những kết quả bước đầu để sớm hài lòng và những khó khăn hiện tại mà nghi ngờ giá trị của mô hình. Điều cần làm là tiếp tục hoàn thiện cải cách bằng tinh thần thực tiễn, khoa học và cầu thị: giao quyền thực chất hơn, cấp nguồn lực tương xứng hơn, hỗ trợ cơ sở tốt hơn, đào tạo cán bộ kỹ hơn, ứng dụng dữ liệu và công nghệ mạnh hơn, kiểm tra giám sát chặt hơn. Bởi xét đến cùng, hiệu quả của mô hình này sẽ không được quyết định bởi số đầu mối đã sắp xếp, mà bởi khả năng trả lời một câu hỏi rất giản dị: người dân có được phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn và tốt hơn hay không? Đó mới là thước đo cuối cùng.
Hệ thống cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp trong cả nước được sắp xếp, kiện toàn mạnh mẽ. Đến ngày 15/12/2025, các địa phương đã giảm 709 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, giảm toàn bộ 8.289 cơ quan chuyên môn cấp huyện; đồng thời thành lập 467 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và 9.916 phòng chuyên môn cấp xã theo mô hình mới. Những con số đó cho thấy quy mô rất lớn của cuộc cải cách này.