Nếu Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã khởi xướng công cuộc Đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo bước ngoặt lịch sử để Việt Nam hội nhập và phát triển, thì Đại hội XIV đặt ra một tầm nhìn xa hơn, rộng hơn.
Tầm nhìn toàn diện đó thể hiện ở chủ trương chiến lược: Phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế chủ động, tích cực. Lịch sử đã chỉ ra một chân lý giản dị mà sâu sắc, mọi nghị quyết, dù đúng đắn đến đâu, nếu không được tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn thì cũng chỉ dừng lại trên giấy. Khoảng cách giữa chủ trương và hiện thực không tự nhiên được lấp đầy bằng những lời hô hào, mà phải bằng hành động, bằng trách nhiệm cá nhân, bằng những kết quả cụ thể đo đếm được trong đời sống nhân dân. Bởi vậy, phấn đấu đưa nhanh Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống không chỉ là yêu cầu tổ chức, mà là mệnh lệnh của chính thực tiễn hôm nay, khi thế giới đang chuyển động với tốc độ chưa từng có.
Ý nghĩa lớn nhất của việc triển khai nhanh Nghị quyết Đại hội là tạo ra sự thống nhất cao giữa ý chí chính trị và hành động thực tiễn. Nghị quyết là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; là tầm nhìn chiến lược cho tương lai dân tộc. Nhưng tầm nhìn ấy chỉ trở thành động lực phát triển khi được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, thành những công trình, sản phẩm, dịch vụ, thành tăng trưởng xanh, việc làm bền vững và đời sống ấm no.
Đưa Nghị quyết vào cuộc sống trước hết là quá trình chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, từ nhận thức sang hành động. Không thể có tình trạng nghị quyết ở Trung ương rất quyết liệt, nhưng xuống đến cơ sở lại chậm chạp, hình thức. Trong những thời khắc bước ngoặt, điều quan trọng không chỉ là xác định mục tiêu dài hạn, mà còn là nhận diện đúng những việc cần làm ngay và những khâu đột phá có tính quyết định. Chúng ta cùng nhớ lại, sau Đại hội VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết loạt bài “Những việc cần làm ngay” đăng trên Báo Nhân Dân. Bài đầu tiên đăng ngày 25/5/1987, dung lượng chưa tới 400 chữ nhưng đi thẳng vào vấn đề nóng bỏng lúc bấy giờ - tìm mọi cách kiềm chế tốc độ tăng giá phi mã. Tinh thần “làm ngay” ấy đã tạo hiệu ứng xã hội sâu rộng, củng cố niềm tin của nhân dân vào quyết tâm đổi mới.
Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Những việc cần làm ngay của hôm nay là gì? Trong thời kỳ phát triển khoa học công nghệ mạnh mẽ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, không thể dàn trải nguồn lực, không thể cùng lúc làm tất cả. Phải xác định rõ điểm nghẽn lớn nhất cản trở phát triển để tập trung tháo gỡ. Đó có thể là thể chế, hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, hay năng suất lao động, năng lực quản trị công. Khi điểm nghẽn được khai thông, dòng chảy phát triển sẽ tự khắc mạnh lên.
Tinh thần ấy được nhấn mạnh nhất quán trong chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: Chuyển mạnh từ phương thức quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả; từ đánh giá bằng báo cáo hình thức sang đánh giá bằng sản phẩm phát triển cụ thể và tác động xã hội thực chất. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm.
Một trong những khâu then chốt để đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống là khẩn trương thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết thành cơ chế, chính sách và pháp luật đồng bộ, ổn định, khả thi. Trong nhiều trường hợp trước đây, chúng ta từng phải nhắc lại một điệp khúc buồn, “rằng hay thì thật là hay/xem ra thực hiện còn gay nhiều bề”, là bởi chính sách chưa theo kịp, thiếu đồng bộ, thiếu ổn định nên không làm được hoặc làm không đến nơi đến chốn. Mỗi sự chậm trễ trong thể chế hóa đều làm giảm hiệu lực của nghị quyết, làm mất đi động lực phát triển.
Đột phá thể chế không chỉ là sửa đổi vài điều luật, mà là đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Thể chế phải mở đường cho đổi mới sáng tạo, cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời bảo đảm công bằng, kỷ cương và lợi ích quốc gia.
Khi mỗi chủ trương lớn được chuyển hóa kịp thời thành chính sách cụ thể, khi hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, ổn định, thì nguồn lực trong dân, trong doanh nghiệp và trong xã hội sẽ được khơi thông. Đó chính là cách biến tầm nhìn chiến lược thành động lực thực tế.
Không có nghị quyết nào dù công phu, toàn bích đến đâu có thể tự tạo nên thành quả. Con người mới là yếu tố quyết định. Vì vậy, đột phá về con người phải được đặt ở vị trí trung tâm. Làm bất cứ việc gì cũng cần có “người lo” giỏi để phát huy được “kho người làm” giàu năng lực, năng khiếu. Thực tế vẫn tồn tại nghịch lý, có cán bộ tham mưu giỏi nhưng thiếu kinh nghiệm tổ chức thực hiện; có nơi cán bộ ngại va chạm, sợ trách nhiệm; có nơi đánh giá cán bộ chủ yếu dựa trên hồ sơ, báo cáo.
Muốn khắc phục, phải lấy kết quả thực tiễn làm thước đo quan trọng nhất để đánh giá, quy hoạch, sử dụng cán bộ. Cán bộ nào dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, mang lại hiệu quả rõ rệt cho địa phương, đơn vị, thì phải được ghi nhận, bảo vệ và trọng dụng. Ngược lại, những biểu hiện trì trệ, né tránh phải được xử lý nghiêm minh.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu về năng lực quản trị, năng lực công nghệ, tư duy toàn cầu càng trở nên cấp thiết. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới không thể chậm trễ. Tinh thần “làm ngay và làm nhanh” đã và đang thể hiện sinh động tại nhiều địa phương, đặc biệt là ở hai đô thị lớn, có sức lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ. Tại thủ đô Hà Nội, nhiều công trình hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, giải phóng mặt bằng quyết liệt, thi công “ba ca bốn kíp”, xuyên lễ, xuyên Tết. Những dự án như cầu Trần Hưng Đạo, đường Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục, cải tạo sông Tô Lịch… không chỉ giải quyết bài toán giao thông, môi trường mà còn mở ra không gian phát triển mới cho Thủ đô. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, các công trình giao thông trọng điểm như Vành đai 3 đang được đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu thông xe toàn tuyến trước 30/4/2026. Những “vòng tay lớn” ấy kết nối các trục quốc lộ, cao tốc, tạo động lực lan tỏa cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía nam.
Nhịp sống khẩn trương, náo nức ấy, những công trường sôi động ấy chính là hình ảnh cụ thể của việc đưa nghị quyết vào cuộc sống. Khi hiệu quả nghị quyết thể hiện ở những khối bê-tông vươn lên giữa lòng sông, ở những tuyến đường thông thoáng, ở những khu công nghiệp xanh, những trung tâm đổi mới sáng tạo, thì nhân dân sẽ cảm nhận rõ ràng sự chuyển động của đất nước.
Có người ví von rằng thế giới đang “đi” và đang “bay”. Công nghệ thay đổi từng ngày, thậm chí từng giờ. Cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh ấy, chậm một bước có thể là chậm cả một nhịp phát triển, điều mà cha ông ta nói giản dị: nước đọng mãi sẽ hóa thành ao tù. Không để nghị quyết “trên mây, trên giấy” chính là yêu cầu sống còn. Nghị quyết có thể được ví như “hoa”, tức nó kết tinh của tư duy, tầm nhìn, lý luận. Nhưng chỉ khi hành động tạo ra “quả”, đó là những thành quả cụ thể cho nhân dân, khi ấy “hoa” mới không rơi rụng giữa chừng.
Khi nghị quyết hiển thị nên những công trình có giá trị, thành sản phẩm, thành năng suất lao động cao hơn, thành môi trường sống xanh hơn, thành niềm tin bền chặt hơn của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, thì khi đó, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam sẽ không chỉ là khát vọng trong văn kiện, mà là hiện thực sống động trên mỗi công trường, mỗi nhà máy, mỗi cánh đồng và từng mái nhà ấm áp trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Mỗi ngày trôi qua là một cơ hội hoặc một sự bỏ lỡ. Người xưa nói, thời gian như mũi tên, đã bay đi là không trở lại. Trong kỷ nguyên vươn mình, thời gian càng trở nên quý giá. Bắt đầu ngay từ hôm nay, từ công việc cụ thể nhất, từ trách nhiệm của từng cá nhân, đó là cách thiết thực nhất để hiện thực hóa Nghị quyết của Đảng.