Nhân Dân hằng tháng xin giới thiệu những ý kiến tâm huyết, gửi gắm niềm tin và kỳ vọng của một số đại biểu tham dự Đại hội.
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười:
Phát huy tiềm năng, thế mạnh từ không gian phát triển mới
Lâm Đồng mới được sáp nhập từ ba tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận, Đắk Nông, trở thành tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước (24.233 km²), dân số gần 3,9 triệu người, tổng GRDP của tỉnh đã vượt 320 nghìn tỷ đồng, xếp thứ 8 toàn quốc. Với vị trí chiến lược, là “cầu nối” giữa Đông Nam Bộ và Duyên hải miền trung, Tây Nguyên, liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía nam, tỉnh hội tụ đầy đủ các điều kiện và dư địa thuận lợi tạo tiền đề phát triển bứt phá.
Với nhiều thế mạnh về phát triển du lịch, kinh tế biển, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, nông nghiệp công nghệ cao, Lâm Đồng có tiềm năng trở thành các trung tâm: du lịch quốc gia; công nghiệp bô xít - alumin - luyện nhôm; khai thác, chế biến sâu quặng titan và năng lượng tái tạo của quốc gia…
Để phát huy tiềm năng, lợi thế, tỉnh thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và đạt kết quả tích cực với 3 dấu ấn nổi bật: kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, thu ngân sách vượt chỉ tiêu Trung ương giao; các hoạt động văn hóa, an sinh, xã hội được quan tâm, chú trọng; kịp thời tăng cường công chức cấp tỉnh hỗ trợ chính quyền địa phương cấp xã và nhanh chóng ổn định tổ chức để phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Do tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc nên tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm được đẩy nhanh: dự án cao tốc Bảo Lộc-Liên Khương, Gia Nghĩa-Chơn Thành, Tân Phú-Bảo Lộc; chuẩn bị đầu tư dự án khởi công Cảng hàng không Phan Thiết, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương… Các mô hình, sáng kiến cải cách hành chính phù hợp tình hình thực tế triển khai thành công, tăng sự hài lòng và giảm thời gian, chi phí đi lại cho người dân, doanh nghiệp.
Để vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yếu tố con người là cốt lõi. Với tinh thần “lấy cơ sở làm trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo”, UBND tỉnh triển khai Chương trình “Tôi làm cán bộ xã”, điều động 730 cán bộ thuộc sở, ngành, lực lượng vũ trang về hỗ trợ các xã, phường và bước chuyển sau 3 tháng đã khẳng định chủ trương đúng đắn, phù hợp thực tiễn. Trong bối cảnh khối lượng công việc nhiều, đội ngũ cán bộ xã vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn ở các lĩnh vực đặc thù, cán bộ về cơ sở giải tỏa áp lực quá tải tức thời, “cầm tay chỉ việc” hướng dẫn quy trình, bồi dưỡng kỹ năng giúp đội ngũ tại chỗ tự tin làm chủ được công việc, nhanh trưởng thành, bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt lâu dài. Qua thời gian tăng cường, biệt phái, cán bộ tỉnh cũng thấu hiểu thực tiễn hơn, rèn luyện tác phong gần dân, hiểu dân và hành động vì dân, tham mưu sát thực hơn khi trở lại vị trí công tác, là “cầu nối thông tin hai chiều” hữu hiệu giúp lãnh đạo tỉnh nắm bắt kịp thời, chính xác khó khăn, vướng mắc ở cơ sở, để chỉ đạo sát sao, hiệu quả.
Tỉnh Lâm Đồng xác định mục tiêu đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển khá, là một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị chung sức, đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, nêu cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực vượt khó, đổi mới tư duy, đột phá phát triển. Tỉnh chú trọng tổ chức thực hiện thực chất, hiệu quả các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị phù hợp thực tiễn địa phương, làm tốt công tác quy hoạch theo không gian phát triển mới; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đẩy mạnh liên kết vùng, ngoại vùng, lấy phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng số làm động lực, phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường; phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao chất lượng, đời sống nhân dân…
Tôi tin tưởng với tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và quyết tâm chính trị cao, Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tạo động lực mới, khí thế mới để Lâm Đồng và các địa phương nỗ lực phấn đấu, ngày càng giàu mạnh.
Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đường sắt Việt Nam Đặng Sỹ Mạnh:
Khắc phục khó khăn, phát huy hiệu quả các nghị quyết chiến lược
Cùng với thuận lợi, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, nhất là chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, thiên tai bão lũ. Thời điểm khó khăn cũng giúp nhận diện rõ nhất những tồn tại, hạn chế, từ đó có giải pháp thiết thực khắc phục. Đòi hỏi đặt ra là phá bỏ tư duy bảo thủ, trì trệ, tái cơ cấu, phát huy năng lực nội sinh, quản trị hiệu quả, đột phá sáng tạo, biến khát vọng phát triển thành hiện thực.
Con số tăng trưởng hơn 10% năm 2025 minh chứng cho nỗ lực không ngừng, chung sức đồng lòng của toàn thể cán bộ, công nhân viên, người lao động ngành đường sắt. Quyết tâm đổi mới thể hiện rõ nét qua các sản phẩm mới đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường, bên cạnh duy trì ổn định các dịch vụ truyền thống, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các đoàn tàu Hoa Phượng đỏ, tàu du lịch 5 cửa ô, đôi tàu Thống Nhất đặc biệt chạy tối 29/4/2025, xuyên đêm giao thừa nhận được phản hồi tích cực từ hành khách bởi mang đậm dấu ấn riêng, kết hợp giữa văn hóa, du lịch với vận tải đường sắt, gia tăng trải nghiệm. Thành công đến từ thay đổi tư duy, khai thác thế mạnh riêng có, đa dạng phân khúc, nâng cao chất lượng, hướng tới “một tấm vé cho cả hành trình”, trong đó đường sắt là một gạch nối trong hệ sinh thái dịch vụ trọn gói phục vụ du khách. Đặc biệt, tinh thần người đường sắt “đoàn kết, kỷ luật, cần kiệm, sáng tạo” lan tỏa mạnh mẽ khi đồng tâm hiệp lực, ứng phó, khắc phục “thần tốc” hậu quả các cơn bão lớn và mưa lũ lịch sử, thông đường sớm nhất.
Ở các nước có đường sắt phát triển, đường sắt đóng vai trò là “trục xương sống”, “động mạch chủ” trong phát triển kinh tế-xã hội. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh tăng cường xây dựng và phát triển đồng bộ, chất lượng cao kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức. Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam và Dự án thành phần 1 thuộc Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng vừa được khởi công. Đó là những điều kiện thuận lợi để ngành đường sắt bứt phá, phát triển hiện đại, bền vững.
Năm 2026, VNR tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Quản lý, vận hành, bảo trì, khai thác an toàn, hiệu quả đường sắt hiện hữu và tham gia xây dựng các tuyến đường sắt mới, chuẩn bị kỹ lưỡng, kịp thời, xây dựng, tiếp nhận quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì đường sắt mới khi được giao nhiệm vụ. Để đạt tăng trưởng từ 2 con số trở lên, VNR quyết tâm thực hiện 8 thông: “Quản trị thông minh, Quy định thông thoáng, Hạ tầng thông suốt, Điều hành thông thạo, Đào tạo thông thái, Công nghiệp thông dụng, Hợp tác thông hiểu, Vận tải thông thương”.
Các nghị quyết chiến lược tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành đường sắt, trong quá trình triển khai, VNR chú trọng vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện, tình hình thực tế. Thực tiễn minh chứng, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ vào quản trị, tổ chức sản xuất, vận tải, chăm sóc khách hàng tạo nhiều chuyển biến tích cực. Thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, VNR đề cao sáng tạo, táo bạo bứt phá, đánh giá cao những sáng kiến tuy nhỏ nhưng mang lại lợi ích thiết thực, chấp nhận cả ý tưởng đề xuất chưa thật sự sát thực để phát huy tinh thần mạnh dạn cải tiến, cống hiến. Nhằm khai thác hiệu quả hơn nguồn lực, tiềm năng, công tác hợp tác quốc tế được đẩy mạnh để kêu gọi đầu tư và liên doanh liên kết phát triển.
Đại hội XIV của Đảng là sự kiện quan trọng, đề ra phương hướng, chiến lược, quyết sách phát triển đất nước giai đoạn 5 năm tới, hướng tới kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng. VNR mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước để sớm kiện toàn và phát triển thành mô hình Tập đoàn nhằm thu hút các nhà đầu tư lớn, hỗ trợ nguồn vốn tương xứng để đáp ứng quy mô hoạt động, các dự án đầu tư mới và tạo điều kiện có cơ chế đặt hàng đào tạo nhân lực chuyên sâu phục vụ vận hành và bảo trì các tuyến đường sắt hiện đại.
Đồng chí Trần Thị Thanh Thủy, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên, Bí thư Đảng ủy phường Mỹ Hào:
Đẩy mạnh chuyển đổi số, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập mô hình phát triển mới, trong đó dữ liệu là tài nguyên chiến lược, công nghệ số là động lực chủ yếu, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể và mục tiêu phục vụ. Đây là định hướng chiến lược lâu dài, đồng thời là yêu cầu trực tiếp đối với cấp cơ sở - nơi gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng.
Phường Mỹ Hào là địa bàn đô thị trung tâm, dân số đông, mật độ cao, hoạt động kinh tế đa dạng, trong khi bộ máy tổ chức tinh gọn, khối lượng công việc lớn, đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, điều hành. Chuyển đổi số (CĐS) vì vậy không phải là lựa chọn, mà là giải pháp căn cơ, mang tính đột phá để nâng cao năng lực quản trị, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh ủy Hưng Yên, Đảng ủy phường Mỹ Hào xác định CĐS là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được triển khai đồng bộ trong cả hệ thống chính trị với tinh thần “người đứng đầu làm gương, tập thể quyết tâm, nhân dân đồng hành”. Việc tổ chức thực hiện được chỉ đạo quyết liệt, bài bản theo phương châm: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả, gắn với kiểm tra, giám sát thường xuyên, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo.
Phường đã thành lập Ban Chỉ đạo CĐS do Bí thư Đảng ủy làm Trưởng ban; ban hành quy chế làm việc; phân công nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị. Các tổ công nghệ số cộng đồng hoạt động hiệu quả, trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng số và dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có năng lực công nghệ tại các bộ phận làm lực lượng xung kích trong triển khai; chủ động khởi động chương trình ký kết thỏa thuận hợp tác, đặt hàng doanh nghiệp triển khai các mô hình ứng dụng công nghệ gắn với thực tiễn...
Nhờ cách làm bài bản, CĐS tại phường sớm đi vào thực chất, tạo chuyển biến rõ nét. 100% cán bộ, công chức sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử và chữ ký số; 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết trên môi trường điện tử; dịch vụ công được triển khai trực tuyến toàn trình tại Trung tâm hành chính công. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt gần tuyệt đối; 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn; toàn bộ nghĩa vụ tài chính được thanh toán trực tuyến. Việc số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính góp phần giảm thời gian, chi phí xã hội, nâng cao tính minh bạch và mức độ hài lòng của người dân. Kinh tế số và xã hội số trên địa bàn từng bước hình thành; nhận thức và kỹ năng số của người dân được nâng lên rõ rệt.
Thực tiễn triển khai cho thấy, CĐS ở cấp phường chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức theo nguyên tắc: Không làm hình thức, không dàn trải, mỗi ứng dụng phải giải quyết một vấn đề cụ thể, giảm việc cho cán bộ, thuận lợi cho người dân. Trên cơ sở đó, phường Mỹ Hào xác định mục tiêu xuyên suốt là xây dựng chính quyền số hiệu quả, đội ngũ cán bộ số chuyên nghiệp, xã hội số toàn diện và mỗi người dân trở thành công dân số thực thụ, trực tiếp thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện tư duy đổi mới, đột phá, nhấn mạnh phát triển nhanh và bền vững gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, CĐS và xây dựng nền hành chính hiện đại. Từ thực tiễn cơ sở, chúng tôi mong muốn Đại hội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện khung thể chế về CĐS cấp xã trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xây dựng hệ thống chuẩn dữ liệu quốc gia thống nhất, liên thông thực chất; quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở về tư duy số, kỹ năng số và năng lực tổ chức thực thi; đồng thời, lựa chọn một số xã, phường làm điểm CĐS toàn diện theo phương châm “làm sâu, làm thật, tổng kết, nhân rộng”.
Tôi tin tưởng rằng, với những quyết sách chiến lược của Đại hội XIV, cùng sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, phường Mỹ Hào nói riêng và các xã, phường trong cả nước sẽ tận dụng tốt thời cơ, tiếp tục đẩy mạnh CĐS thực chất, hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
TS Bùi Thanh Tùng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hải Phòng:
Thúc đẩy phát triển đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá. Hải Phòng là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Sau khi hợp nhất thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 57, trong đó bổ sung, điều chỉnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ sát với tình hình thực tiễn theo phương châm “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) nhằm tạo thuận lợi trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc triển khai thực hiện. UBND thành phố đã kịp thời ban hành kế hoạch thực hiện các kế hoạch của Ban Thường vụ Thành ủy và Ban Chỉ đạo thành phố để triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Điểm nổi bật là thành phố đã tham mưu cho Quốc hội ban hành Nghị quyết số 226/2025/QH15, trong đó có 8 cơ chế, chính sách đặc thù về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dành riêng cho Hải Phòng, UBND thành phố đã sớm ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết. HĐND thành phố Hải Phòng cũng kịp thời ban hành 6 Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn thành phố với một số nội dung mang tính đột phá. Đó là các quy định về chính sách phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo giai đoạn 2025 - 2030; về nội dung, mức, thời gian, tiêu chí và đối tượng được hưởng ưu đãi đất đai đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ; về tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục ưu đãi thuế đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó là các quy định về phương thức, điều kiện, nội dung, mức và trình tự, thủ tục hỗ trợ không hoàn lại từ ngân sách thành phố cho các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; về nội dung, mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, tiêu chí và đối tượng được hỗ trợ thuê trực tiếp tài sản kết cấu hạ tầng khoa học và công nghệ không thông qua đấu giá để hoạt động; phê duyệt đề án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm thành phố và quy định cơ chế tổ chức hoạt động của Quỹ, trách nhiệm kiểm tra, giám sát, báo cáo kết quả thực hiện.
Hiện nay, thành phố đang tập trung xây dựng các chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển; thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, chuyển giao công nghệ; khuyến khích hình thành, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo trên địa bàn thành phố.
Là một đại biểu trí thức được tham dự Đại hội lần thứ XIV của Đảng, ngoài niềm vinh dự và tự hào, cá nhân tôi mong muốn được tiếp tục đóng góp ý kiến cho các quyết sách của Đảng (được thể hiện trong các dự thảo Văn kiện của Đại hội) đối với lĩnh vực phát triển đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ tiếp tục tạo ra các động lực mới, quyết tâm chính trị mới để các cơ quan nhà nước sớm hoàn thiện hành lang pháp luật, để tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW có các điều kiện cần và đủ nhằm sớm mang lại hiệu quả trong thực tiễn. Qua đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thật sự có bước phát triển đột phá, tạo đòn bẩy cho một bước chuyển mình đối với nền kinh tế đất nước nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.