Chính sách-cuộc sống

Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển: CẢI CÁCH ĐỘNG LỰC HÀNH VI

Đại hội XIV của Đảng đã xác định tầm nhìn đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước - Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ảnh | DUY LINH
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ảnh | DUY LINH

Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược ấy, Văn kiện Đại hội nhấn mạnh yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển”, coi đây là một trong những đột phá có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn mới. Định hướng đó đặc biệt đúng đắn, bởi thể chế không chỉ điều chỉnh hiện tại mà còn định hình tương lai của quốc gia.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là hoàn thiện thể chế, mà là hoàn thiện như thế nào để thể chế thật sự trở thành động lực cho phát triển nhanh và bền vững. Nếu chỉ dừng ở việc sửa đổi quy định hay bổ sung chính sách, chúng ta có thể chưa chạm tới tầng sâu nhất của vấn đề.

Ở tầng sâu đó, thể chế trước hết là một cấu trúc khuyến khích - một hệ thống định hình và “định giá” các lựa chọn hành vi trong xã hội. Nó gửi đi những tín hiệu rõ ràng về điều gì được khuyến khích, điều gì phải trả giá và lựa chọn nào là hợp lý nhất trong dài hạn. Hiểu đúng cấu trúc ấy và thiết kế nó theo hướng làm cho điều đúng trở thành lựa chọn có lợi nhất, chính là điều kiện tiên quyết để biến tầm nhìn 2045 thành hiện thực.

Thiết kế phù hợp, ổn định dài hạn

Con người không hành động chỉ theo khẩu hiệu. Mỗi quyết định của cán bộ, doanh nghiệp hay người dân đều được cân nhắc trong một “bài toán” cụ thể: Lợi ích là gì, chi phí bao nhiêu, rủi ro đến mức nào và kỳ vọng tương lai có đủ đáng tin để dấn thân hay không. Nếu làm đúng mà rủi ro cá nhân quá lớn, sự dè dặt sẽ xuất hiện. Nếu làm sai mà chế tài không nghiêm, sai lệch dễ lan rộng. Nếu sáng tạo không được bảo vệ, đổi mới sẽ chùn bước.

Một minh chứng điển hình cho vai trò định hình hành vi của thể chế là sau công cuộc Đổi mới năm 1986, khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung được thay thế bằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hàng triệu hộ nông dân và doanh nghiệp đã thay đổi cách hành động. Việc trao quyền sử dụng đất ổn định cho nông dân đã nhanh chóng biến Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Vì vậy, thể chế không trực tiếp tạo ra tăng trưởng. Thể chế định hình động lực. Động lực định hướng hành vi. Và hành vi, khi được lặp lại và tích tụ, sẽ tạo thành quỹ đạo phát triển của quốc gia.

Khi bàn về “thể chế phát triển”, điều cốt lõi không chỉ là các quy định có đầy đủ hay không, mà là hệ thống đó đang làm cho hành vi nào trở nên hấp dẫn hơn: Sáng tạo hay an toàn, trách nhiệm hay né tránh, kiến tạo giá trị hay tìm kiếm lợi ích ngắn hạn.

Thể chế phát triển chính là sự thiết kế các lựa chọn hành vi theo hướng khuyến khích giá trị dài hạn.

Trước hết, phải làm cho sáng tạo trở thành hành vi có lợi. Người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung cần được bảo vệ và ghi nhận; rủi ro khách quan trong đổi mới phải được phân biệt với sai phạm cố ý; cơ chế thưởng-phạt phải minh bạch và nhất quán.

Thứ hai, phải cân bằng quyền hạn với trách nhiệm. Trách nhiệm lớn mà quyền hạn hạn chế dễ dẫn tới e dè, tê liệt. Quyền lực rộng mà trách nhiệm không tương xứng lại tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng. Cải cách thể chế vì vậy không chỉ là phân cấp, mà là tái thiết kế mối quan hệ giữa quyền lực, nghĩa vụ và giải trình, để mỗi quyết định công đều gắn với trách nhiệm rõ ràng.

Thứ ba, phải tạo ra kỳ vọng ổn định dài hạn. Doanh nghiệp chỉ đầu tư lớn khi tin vào tính nhất quán của môi trường pháp lý. Người dân chỉ nỗ lực khi tin rằng, cơ hội được phân bổ công bằng. Cán bộ chỉ dấn thân khi tin rằng, sự cống hiến chính đáng được bảo vệ. Niềm tin ấy không được tạo ra bằng lời kêu gọi, mà bằng một môi trường khuyến khích minh bạch và được thực thi nghiêm túc.

3d9ba9b98c3a02645b2b.jpg
Lắp ráp ô tô tại Công Ty Cổ Phần Tập đoàn Trường Hải. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Hoàn thiện thể chế phát triển, vì thế, thực chất là thiết kế lại động lực hành vi ở tầm quốc gia: Làm cho lựa chọn đúng trở thành lựa chọn hợp lý nhất; làm cho sáng tạo, liêm chính và trách nhiệm gắn với cơ hội phát triển.

Thực tiễn cho thấy cấu trúc động lực vẫn còn những điểm chưa thật cân bằng.

Tâm lý né tránh trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, thể hiện qua sự chậm trễ trong xử lý hồ sơ hay phê duyệt dự án, phản ánh sự bất cân xứng giữa rủi ro cá nhân và lợi ích cống hiến. Tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công trong một số giai đoạn là thí dụ dễ thấy: Khi một quyết định đúng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bị xem xét lại, còn phần thưởng ghi nhận không rõ ràng, lựa chọn an toàn dễ trở nên “hợp lý”.

Hành vi ngắn hạn, chạy theo thành tích nhiệm kỳ cũng có thể bắt nguồn từ cơ chế đánh giá chưa coi trọng đầy đủ kết quả dài hạn. Khi chỉ tiêu tức thời được nhấn mạnh hơn hiệu quả bền vững, lựa chọn hợp lý sẽ nghiêng về những việc “nhìn thấy ngay”.

Sự dè dặt trong đổi mới, từ thí điểm mô hình kinh doanh mới đến ứng dụng công nghệ số, cũng cho thấy chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý còn cao. Trong bối cảnh đó, trì hoãn trở thành lựa chọn dễ hiểu về mặt hành vi.

Những hiện tượng này không nên nhìn như lỗi cá nhân, mà như hệ quả của cấu trúc khuyến khích chưa thật sự cân bằng. Khi làm đúng chưa chắc đã “có lợi” bằng làm an toàn; khi sáng tạo mang lại rủi ro lớn hơn phần thưởng; khi lợi ích dài hạn không được đánh giá tương xứng, thì hành vi phòng thủ sẽ lấn át hành vi kiến tạo.

Điều chỉnh kịp thời trong bối cảnh mới

Cấu trúc khuyến khích không phải là thiết kế bất biến. Khi bối cảnh thay đổi, nếu hệ thống động lực không được điều chỉnh kịp thời, nó có thể từ động lực trở thành lực cản.

Trong nền kinh tế số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo, nếu khung pháp lý chậm cập nhật, nếu tiêu chí đánh giá vẫn thiên về an toàn hơn sáng tạo, thì cấu trúc khuyến khích sẽ nghiêng về trì hoãn thay vì hành động. Nhiều quốc gia đã áp dụng cơ chế “sandbox” để thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực công nghệ tài chính hay kinh tế số. Ở Việt Nam, việc xây dựng khuôn khổ thử nghiệm cho fintech trong lĩnh vực ngân hàng cũng phản ánh cách tiếp cận này: Cho phép thử nghiệm có kiểm soát nhằm giảm rủi ro và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, hoàn thiện thể chế phát triển không chỉ là thiết kế đúng động lực ở một thời điểm, mà còn là duy trì khả năng điều chỉnh động lực theo thực tiễn.

Nếu năm 2045 là đích đến, thì thể chế là đường băng. Và cấu trúc khuyến khích là động cơ của chuyến bay phát triển.

Thực tế những năm gần đây cho thấy khi môi trường thể chế thuận lợi, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghệ, sản xuất và dịch vụ, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những thành công đó không chỉ là câu chuyện của từng doanh nghiệp, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của một môi trường thể chế biết khuyến khích sáng tạo và khát vọng vươn lên.

Cải cách thể chế, suy cho cùng, là cải cách động lực hành vi ở tầm quốc gia: Làm cho sáng tạo trở thành lựa chọn tự nhiên; làm cho liêm chính trở thành lợi thế; làm cho trách nhiệm trở thành chuẩn mực hành động. Khi mỗi cá nhân thấy rằng, hành vi đúng đắn là hành vi hợp lý nhất, khi niềm tin vào tương lai được bảo đảm bằng một thiết kế thể chế minh bạch và ổn định, động lực phát triển sẽ được giải phóng.

Đó là con đường căn bản để khơi thông mọi nguồn lực, củng cố niềm tin xã hội và hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phát triển hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.

Thực tế cho thấy khi môi trường thể chế thuận lợi, động lực phát triển có thể được giải phóng mạnh mẽ. Việc cải thiện môi trường kinh doanh và cắt giảm hàng nghìn điều kiện kinh doanh những năm qua đã góp phần tăng nhanh số lượng doanh nghiệp, từ vài chục nghìn đầu những năm 2000 lên hơn một triệu doanh nghiệp hiện nay.

Có thể bạn quan tâm