Cuối năm 2025, ở tuổi 72, Frank Proschan lại đang dành tâm huyết cho một công việc mới mà ông coi là “vừa hứng khởi vừa đầy thách thức”: cố vấn Dự án Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ tiếng hát người Khơ Mú...
Phóng viên: Thưa ông, ông có thể chia sẻ về quá trình làm việc và gắn bó với Việt Nam?
PGS, TS Frank Proschan: Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào những ngày cuối cùng của năm 1987. Trong chuyến đi đó, tôi đã gặp gỡ, làm việc với các cán bộ của Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), gồm Viện trưởng Bế Viết Đẳng và hai Phó Viện trưởng Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Văn Huy. Đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp TS Nguyễn Văn Huy, ông cho tôi xem bản vẽ kiến trúc mà 10 năm sau đó trở thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Qua nhiều năm hợp tác, TS Huy và tôi đã cùng huy động nguồn lực để thu hút các học giả Mỹ quan tâm đến các dự án tại Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Việt Nam lần lượt được mời sang Mỹ và ngược lại. Chúng tôi đã thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Viện Smithsonian (nơi tôi công tác lúc bấy giờ) và Viện Dân tộc học để thúc đẩy sự hình thành, phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, sau đó là hàng loạt dự án tại các bảo tàng khác.
- Thưa ông, chắc hẳn những năm tháng đó có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ?
Sau chuyến đi đầu tiên ấy, tôi đã nhiều lần trở lại Việt Nam để cùng Viện Dân tộc học thực hiện các nghiên cứu riêng về cộng đồng người Khơ Mú tại Lào Cai (1990), Nghệ An (1994, 1995) và Sơn La (1995). Khi Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam khánh thành năm 1995, tôi tiếp tục phối hợp nghiên cứu điền dã về nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer tại Lai Châu (1996, 1998) và Sơn La (1998).
Trước khi quan hệ ngoại giao hai nước được bình thường hóa vào năm 1995, những khó khăn về thực tế và hậu cần đối với một người Mỹ làm việc tại Việt Nam là rất lớn. Viện Smithsonian không thể chuyển tiền trực tiếp để chi trả chi phí cho các đồng nghiệp Việt Nam. Mọi chuyến đi từ Mỹ sang Việt Nam và ngược lại đều phải quá cảnh qua Bangkok (Thái Lan) - nơi cả hai nước đều có đại sứ quán - chi phí thêm vài ngày lưu trú tốn kém. Những cuộc điện thoại từ Hà Nội đi Washington có thể thực hiện được nhưng giá rất đắt, còn gọi từ Mỹ về Việt Nam thì lại là bất hợp pháp. Việc liên lạc chỉ qua những chiếc máy telex thời kỳ chưa có fax, email hay video call. Tôi không biết tiếng Việt, rất ít đồng nghiệp Việt Nam khi đó nói được tiếng Anh.
Thế nhưng, như tôi từng viết trong một bài báo khác: “Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc tôi cùng cười với TS Đặng Nghiêm Vạn khi hai anh em ngồi trong một bản người Khơ Mú ở Nghĩa Lộ - nơi ông Vạn từng đến năm 1968 và đã phải hứng chịu cơn mưa bom của quân đội Mỹ dội xuống đầu. Thật không thể tưởng tượng nổi khi một chuyên gia người Mỹ nghiên cứu về người Khơ Mú lại có thể ngồi ghi âm những câu chuyện cổ và bài hát dân ca tại chính bản làng đó chỉ hai thập kỷ sau!”.
... đến dự án vừa hấp dẫn, vừa đầy thử thách
- Và giờ đây, điều gì đã thôi thúc ông nhận lời làm cố vấn cho dự án Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam?
Có nhiều yếu tố khiến dự án này trở nên vô cùng hấp dẫn đối với tôi. Trước hết, phải kể đến năng lực của đội ngũ chuyên gia Việt Nam, không chỉ TS Nguyễn Văn Huy mà nhiều cán bộ, chuyên gia bảo tàng khác. Tôi có niềm tin mãnh liệt vào khả năng sáng tạo và tầm nhìn của họ về một Bảo tàng của Đảng không đơn thuần là bảo tàng lịch sử chính trị, mà còn là một bảo tàng lịch sử văn hóa và xã hội. Rõ ràng, lời mời này rất khó từ chối. Đây cũng là cơ hội để tôi làm việc với những người bạn cũ và cả những người bạn mới. Tôi lại có một “thói quen xấu” là thích những gì thử thách và khó khăn. Thật sự đây là một thách thức lớn.
- Thách thức đó là gì, thưa ông?
Ở Mỹ, việc xây dựng một bảo tàng với quy mô và tầm vóc như thế này thường mất từ 15 đến 25 năm. Ở đây lịch trình bị nén lại chỉ còn gần 5 năm. Hơn cả áp lực thời gian, tôi còn thấy những thách thức từ khoa học, triết lý bảo tàng cho đến những vấn đề thực tiễn.
Thứ nhất, làm sao để tìm ra cách kể mới cho những câu chuyện vốn đã quá quen thuộc với đại đa số công chúng Việt Nam? Một điều nữa là tại Việt Nam đã có nhiều bảo tàng khác kể những câu chuyện tương đồng hoặc chồng lấn, thí dụ như hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự, các bảo tàng tỉnh, thành phố... Làm thế nào để Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam có thể kể lại những câu chuyện cũ bằng ngôn ngữ riêng biệt, với một góc nhìn mới mẻ. Tôi nghĩ đó là một thách thức lớn.
Thách thức thứ hai, cần tìm ra cách tiếp cận phù hợp cho cả công chúng đại trà lẫn các nhóm đặc thù, như những khách tham quan có tiểu sử và quan điểm khác biệt. Không phải tất cả khách tham quan đều nhất thiết phải đồng ý với cách trình bày thông tin, sự kiện hay hiện vật. Họ có thể có những trải nghiệm và góc nhìn khác nhau, hoặc đôi khi có thể sẽ có những tranh luận, nhưng sứ mệnh của Bảo tàng là làm cho tất cả mọi du khách đều cảm thấy được chào đón và trân trọng. Tôi tin tưởng rằng Bảo tàng có thể tìm ra giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề phức tạp này.
Về tính tương tác và công nghệ bảo tàng, chúng ta phải tích hợp một cách sáng tạo các phương tiện kể chuyện hiện đại nhất, sử dụng những công cụ có khả năng giữ chân người xem ở mọi lứa tuổi trong nhiều thập kỷ tới - những thập kỷ mà công nghệ thông tin sẽ còn tăng tốc chóng mặt.
- Vậy theo ông, tiêu điểm hiện vật cho Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam nên là gì và cách tiếp cận để tìm kiếm chúng ra sao?
Một trong những nguyên tắc dẫn dắt của những người có trách nhiệm xây dựng Bảo tàng là: cách tốt nhất để làm nổi bật vai trò của Đảng chính là thông qua câu chuyện cá nhân. Cách kể chuyện này có thể thông qua các cuộc phỏng vấn video, ghi âm, hoặc qua các tư liệu, hồi ký, ký ức của những người trực tiếp trong cuộc.
Hàng trăm năm qua, các bảo tàng luôn mang sứ mệnh kết nối du khách với quá khứ và gặp gỡ các nhân vật lịch sử thông qua những hiện vật gốc, hữu hình. Hàng trăm, hàng nghìn hiện vật vẫn đang nằm ẩn khuất đâu đó trong ngăn tủ, trên gác mái hay trong những góc nhỏ của mỗi ngôi nhà Việt Nam - làm sao để bảo tàng “truy tìm” được chúng?
Tôi nhớ lần đầu đến Việt Nam, đi qua chợ thấy những hộp kem đánh răng Volgate của Liên Xô được bán khắp nơi. Bây giờ chúng ta chỉ thấy Colgate, việc tìm lại một vỏ hộp Volgate chắc chắn là rất khó. Những hiện vật như thế có thể kể câu chuyện quan trọng về quan hệ quốc tế, thị trường, kinh tế, thương mại và về sự lãnh đạo của Đảng trong nhiều lĩnh vực. Bảo tàng phải huy động được người dân Việt Nam kể lại những câu chuyện cá nhân của họ, để tất cả cùng tạo nên bức tranh lịch sử 100 năm của Đảng.
- Được biết ông đã tặng một số hiện vật đầu tiên cho dự án, ông có thể chia sẻ đó là những gì không?
Trong chuyến đi này, tôi mang theo một vài cuốn sách mà tôi đã sưu tầm được ở Mỹ và Việt Nam trong suốt 30 - 40 năm qua để góp phần kể câu chuyện về Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng hạn, một cuốn sách của Nhà xuất bản Giải phóng được in tại Việt Nam năm 1968, viết bằng tiếng Anh dành cho độc giả quốc tế. Hay một cuốn sách xuất bản tại Mỹ cùng thời kỳ, ghi lại nhiều ý kiến khác nhau phản đối chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra còn có các tài liệu xuất bản tại Myanmar, Ấn Độ, hay của Sứ quán Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cuba... Đó đều là những tài liệu quý giá, cho thấy những câu chuyện cụ thể về quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đó. Tôi vẫn cần tìm thêm tài liệu trên giá sách của mình để đóng góp cho dự án này.
- Xin cảm ơn ông rất nhiều về những đóng góp quý báu dành cho Việt Nam.
PGS, TS Frank Proschan là Chuyên gia bảo tàng, nguyên cán bộ cấp cao của UNESCO, nguyên cán bộ Viện Smithsonian (Mỹ). Ông nghiên cứu và tư vấn về di sản văn hóa và bảo tàng tại Mỹ và quốc tế. Ông cũng từng đảm nhận các vị trí Học giả nghiên cứu cao cấp Fulbright (Chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á); Học giả cộng tác tại Đại học Indiana (Mỹ); Phó Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Fulbright Việt Nam. Ông đã dẫn dắt và triển khai nhiều chương trình đào tạo về bảo tàng tại Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan...