Xóa đói, giảm nghèo ở Đà Nẵng


Quận Hải Châu ở giữa trung tâm TP Ðà Nẵng, gồm 12 phường, với tổng diện tích gần 25 km2, dân số hơn 204 nghìn người. Trong cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - thủy sản - nông nghiệp, những năm gần đây, Hải Châu tiến hành công tác xóa đói, giảm nghèo khá quyết liệt. Từ 3.277 hộ nghèo đói năm 1998, nay chỉ còn 1.744 hộ nghèo. So dân số, tỷ lệ đói nghèo ấy chỉ là con số nhỏ, khoảng 1,6%.

Chánh Văn phòng UBND quận Hải Châu Lê Anh tâm sự: "Thuần túy số liệu, thì dễ lạc quan lắm. Song, cuộc chiến này xem ra còn nan giải, cam go". Phân tích cụ thể, đằng sau tỷ lệ ngỡ như nhỏ ấy, là mấy nghìn người phần lớn là những đối tượng rất khó tự lực vươn lên.

Mặt khác, nền tảng xóa đói, giảm nghèo trước hết phải từ cuộc sống ổn định, có việc làm tương đối đều, thu nhập khá. Nhưng, Ðà Nẵng đang tích cực cải tạo cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị. Dù là quận trung tâm, nhưng gần một phần hai số phường trong quận cũng bị chi phối bởi quá trình này. Hàng nghìn hộ phải rời bỏ môi trường sản xuất, kinh doanh cũ; thay đổi nghề khác, hoặc tìm kế mưu sinh mới. Vượt được nghèo năm trước, nhưng lại bị tái nghèo năm sau. Thế mới biết xóa đói, giảm nghèo không chỉ là chuyện khó khăn và nan giải ở vùng sâu, vùng xa.

Tôi đến phường Hòa Cường, thuộc quận Hải Châu, Chủ tịch UBND phường Phạm Hồng Chinh tiếp chúng tôi lúc đầu hồ hởi lắm, nhưng vẻ mặt chuyển sang đăm chiêu hẳn, khi bắt gặp câu hỏi: "Tỷ lệ đói nghèo 1,2% cách đây đã bốn năm, giờ lại tái hồi phải không anh?".

Hỏi vậy, chứ lòng riêng rất chia sẻ với những khó khăn trong xóa đói, giảm nghèo mà Hòa Cường đang phải đối mặt. Bởi, Hòa Cường là vùng đất bị san lấp ruộng vườn, tái tạo các khu dân cư mới nhiều nhất quận.

Bốn năm trước dân số chưa đến 24 nghìn, nay đã 32 nghìn người. Từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ - thủy sản - chăn nuôi; chỉ sau hai năm các yếu tố "nông nghiệp, thủy sản" đã biến mất; thay mới bằng cơ cấu kinh tế dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp - kinh doanh. Khoảng 218 ha đất nông nghiệp hai, ba vụ đã bị san lấp; nhường chỗ cho các cơ sở kinh tế, khu dân cư. Nếu năm 2003, phường chỉ đạo quyết liệt, giảm được 54 hộ nghèo, còn lại 18 hộ (theo tiêu chí cũ); thì nay con số ấy đã vượt qua 1,2%.

Ðến thôn Bình An II, tôi gặp lại chú Ba Khương. Chú tâm sự: "Bình An I, Bình An II vốn là vùng đất trồng màu, hoa, cây cảnh. Trước, bình quân từng hộ thu được khoảng 10-12 triệu đồng mỗi năm. Nay, giải tỏa, nên cơ bản đã hết đất canh tác. Chỉ được đền bù khoảng 19 nghìn 300 đồng đến 19 nghìn 500 đồng một m2 đất. Có tiền đấy,... nhưng chuyển đổi nghề khó lắm. Luống tuổi, học nghề mới không vô. Cứ lo ngay ngáy quay lại cảnh nghèo".

Ở thôn Hóa Sơn, nơi trước đây chuyên làm nghề thủy sản, nay có khoảng 121 hộ, tình cảnh còn khó hơn. Bà Ðặng Thị Chín, cho biết: "Nhà có năm người chủ yếu bám vào sông nước, ven biển. Chỉ tay lưới nhỏ, chiếc thuyền nan là sống được. Nay, lên bờ, khó khăn hung. Muốn sắm tàu gỗ to, sải lưới rộng, thì không có tiền; cũng chẳng dám vay lớn. Ðang lo lắm, không khéo, cứ nghèo riết".

Tuy vậy, phường Hòa Cường đã làm được nhiều việc tốt trong xóa đói, giảm nghèo. Phương châm chung là "Ðảng lãnh đạo, chính quyền hỗ trợ, Mặt trận vận động, các hộ tự vượt lên". 32/54 hộ khó khăn nhất đã được vay vốn qua tín chấp của Quỹ xóa đói, giảm nghèo 120.

Nhờ có vốn, nỗ lực của cả nhà, các hộ Văn Thị Kim Lợi (tổ 64), Nguyễn Thị Danh (tổ 14) và nhiều hộ khác đã thoát nghèo. Hộ Nguyễn Văn Ðược (tổ 42) đông đến 9 người, nhờ vốn 120, có sự hỗ trợ của cộng đồng, nay đã làm được nhà mới.

Mặt khác, hàng loạt hộ tự lực vươn lên rất mạnh, nhờ sự định hướng, hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể địa phương, như Phan Thị Cúc (tổ 22A), Ðoàn Văn Pha (tổ 9), Hồ Văn Thôi (tổ 11). Nét chung ở họ là năng động, không ỷ lại vào cộng đồng.

Tuy vậy, để vượt qua đói nghèo, mỗi hộ, từng nhóm hộ thường có cách làm riêng, khá sáng tạo. Chẳng hạn, ở tổ 51, có nhóm thanh niên năm người, do Trần Quốc Việt mới xuất ngũ làm tổ trưởng, đã mạnh bạo vay vốn, lập Xưởng kỹ nghệ sắt - bu lông - ốc vít. Chỉ hơn một năm, đã "ăn nên làm ra", thu nhập cao.

Nhóm Nguyễn Minh Bê, ở tổ 63, hướng tới chăn nuôi tập trung (chim cảnh, gà, chim cút). Từ khó khăn, nay đã thoát hẳn nghèo. Có kinh nghiệm làm ăn và giải quyết thêm được một số lao động ngoài nhóm.

Cũng có số ít người nhờ giải tỏa, đền bù mà thoát nghèo. Ông Lê Văn Tăng, trước ở tổ 54, tâm sự: "Trước giải tỏa, nhà tôi chỉ có 54 m2. Tôi đi xe đạp thồ, vợ đi lượm ve chai nuôi sáu miệng ăn. Giải tỏa xong, cầm trong tay hơn 20 triệu đồng, chẳng biết tính sao... May được phân mua một lô đất. Tôi bán đi, lãi ròng 160 triệu đồng. Tôi mua lô đất nhỏ, làm lại nhà mới, chỉ hết hơn 70 triệu đồng, số tiền còn lại, tôi mua hai xe máy đi thồ, gửi tiết kiệm, lo làm ăn... Nhờ thế mà đời sống nâng cao dần. Thoát nghèo!". Rõ ràng, để thoát được đói nghèo trước hết, vẫn phải tự mình vươn lên, từ ý chí và cách nghĩ, cách làm trong mỗi gia đình.

Trên đường đi tìm giải pháp xóa đói, giảm nghèo, chúng tôi đã đến phường Thuận Phước, cùng trong quận. Thuận Phước là phường giáp vịnh biển, sống nhờ biển, những nghề liên quan tới biển, phần lớn ngư dân trình độ dân trí không đều.

Trước đây, chuyện giàu nghèo dường như chỉ nhờ vào may rủi, qua mỗi chuyến ra khơi. Nay thì khác. Thuận Phước đang trội lên như một điển hình về xóa đói, giảm nghèo. Từ 348 hộ đói nghèo, tương ứng 2,5% vào năm 1998, nay chỉ còn lại 20 hộ, tương ứng 0,58%.

Không vội trả lời câu hỏi "Kinh nghiệm nào hay thế?"; Chủ tịch UBND phường Thuận Phước, Lê Ngọc Dũng, thuyết trình về xóa đói, giảm nghèo trong phường đến là say sưa.

Gom lại, Thuận Phước làm rất bài bản. Ðề án xóa đói, giảm nghèo của phường được lập ra rất chi tiết; khảo sát cặn kẽ từng hộ, thể hiện rõ tiến độ từng năm.

Có năm nguyên nhân nghèo đói: Không có (hoặc quá thiếu) lao động; thiếu vốn; không có việc làm; hoàn cảnh khó khăn đặc thù; chây ì - ỷ lại trong lao  động.

Tùy đối tượng, các tiểu ban xóa đói, giảm nghèo khu vực (cơ cấu vừa có đảng viên, vừa có thành phần các đoàn thể chính trị - xã hội khác) đã làm việc cật lực, chịu trách nhiệm cụ thể. Hằng tháng, các tiểu ban này rà soát lại công việc, đến từng hộ để kiểm tra, định hướng, uốn nắn lệch lạc.

Mỗi quý, Ðảng ủy và Thường trực UBND phường xem xét tổng thể, phân tích, giải quyết vướng mắc. Bởi vậy, ba nguồn vốn về phường (từ Ngân hàng chính sách xã hội; từ Quỹ 120; từ vốn dành cho Chương trình Dân số - KHHGÐ) đều vào trúng các đối tượng nghèo.

Ở đây, phường còn biết cách kích thích các hộ, nhóm hộ vươn lên nhanh trong sản xuất, chế biến, thương mại bằng cách căn cứ vào tính khả thi trong các tiểu dự án, năng lực tăng trưởng kinh tế qua chu kỳ sản xuất - kinh doanh, để cho vay vốn nhiều dần lên. Từ đó, tạo nên "hạt nhân" để giải quyết việc làm cho các đối tượng nghèo.

Cách vay vốn từ Ngân hàng chính sách - xã hội cũng có nét trội, tích cực. nếu nhiều nơi chỉ gom 5-15 hộ nghèo vào với nhau, tổ chức lại cho có trách nhiệm hình thức, rồi cho vay, thì ở đây làm khác.

Ở Thuận Phước, tổ vay vốn được cơ cấu trên cơ sở ngành hàng và được bố trí vào tổ cả ba loại đối tượng (vừa thoát nghèo, nghèo mức độ và rất nghèo). Nhờ vậy, họ có thể chỉ vẽ cho nhau trong tổ rất cụ thể và "cõng" hộ trách nhiệm trả lãi cho nhau trên đường thoát nghèo.

Một nữ Phó chủ tịch UBND phường rất trẻ, vừa được đề bạt từ cán bộ chuyên trách xóa đói, giảm nghèo, bộc bạch chân thành: "Vùng sâu, vùng xa còn xóa đói, nghèo được thì giữa đô thị càng phải tự trọng giúp dân vươn lên, anh ạ. Cái khó là có chịu đến thường xuyên với từng hộ, chỉ vẽ cụ thể và quyết khơi gợi ham muốn tự vươn lên khá giả của bà con hay không".

Dường như một minh chứng, chúng tôi đã gặp được chị Trương Thị Kim Oanh, ở tổ 15. Nhà cửa chưa khang trang lắm, nhưng chị rất vui. Nhờ được vay vốn, bán cháo buổi sáng, có chồng phụ thêm, mà anh chị đã nuôi được ba cháu ăn học tử tế. trong đó, một cháu vừa tốt nghiệp đại học, sắp có việc làm. Chẳng bao lâu nữa, đói nghèo với anh chị, đã là chuyện ngày xưa!

Còn có những điển hình lôi cuốn được nhiều người khác cùng mình thoát nghèo. Ðó là nhóm sản xuất lốp cao-su cỡ nhỏ của anh Lê Sung (tổ 47); nhóm chăn nuôi lợn do anh Lê Cương (tổ 14) phụ trách, v.v. Riêng một năm, Thuận Phước xóa được 75 hộ nghèo. Tốc độ ấy cũng phản ánh chính xác cách nghĩ, cách làm đúng từ cơ sở...

Chúng tôi đến với phường Khuê Trung, nằm phía tây - nam quận Hải Châu. Ðáng tiếc là từ Quyền Chủ tịch UBND phường Nguyễn Hữu Hùng đến nhiều cán bộ liên quan, trực thuộc đều hẫng hụt, thậm chí không nắm vững thông tin về xóa đói, giảm nghèo ngay chính trên địa bàn.

Ðã cuối tháng 3, nhưng cán bộ chuyên trách giờ mới đi khảo sát. Hai lần đến không gặp tại công sở, xế chiều tôi đành gọi điện thoại về nhà riêng chị Hoanh, cán bộ chuyên trách xóa đói, giảm nghèo của phường, mong tìm ra số liệu. Nhưng đã được trả lời, đại ý: "Cán bộ chuyên trách mấy năm qua về vấn đề này bỏ việc lâu rồi. Tôi mới làm, làm sao biết, mà đối chiếu và tìm điển hình được..."(?).

Quyền chủ tịch phường Khuê Trung cũng chẳng có văn bản lưu trữ nào về vấn đề này. Thi thoảng anh vẫn làm thơ, lấy bút danh Nguyễn An Hạ, nên làm việc, đúng là... như thơ thật!

Án ngữ dài trên bàn một cán bộ tên là Nguyễn Thị Minh Lý có bảng hiệu "Chuyên viên theo dõi các tổ dân phố". Mừng quá, tôi liền hỏi: "Vui lòng cho biết tổ nào ở phường ta xóa đói, giảm nghèo tốt và nhanh nhất?". Ðáp: "Không biết! Chỉ biết tổ nào đóng được nhiều tiền nhất thôi" (!). Cuối cùng, thì cô ta cũng chỉ ra được một nhà tổ trưởng ở tổ 1A. Nhưng, lao xe máy đến nơi, mới thấy khôi hài: Tổ trưởng ấy đã thôi chức trách từ lâu rồi và đã chuyển sang anh Chức, lúc đó vắng nhà.

Thật chẳng ở đâu lưu trữ hồ sơ xóa đói, giảm nghèo và nắm tình hình về đói nghèo ở cơ sở kỳ lạ như phường Khuê Trung. Quan liêu đến thế, xóa đói, giảm nghèo cho dân kiểu gì đây?...

Ðẩy lùi thật sự đói nghèo, nhất là đừng để xảy ra tái nghèo ngay giữa thành phố lớn, các cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể trong Mặt trận cần làm quyết liệt và bài bản hơn. Trong đó, quan trọng hàng đầu là sớm tạo ra thu nhập, việc làm ổn định cho các hộ nghèo và định hướng đúng các nấc thang phấn đấu của các hộ ấy từ thực tế - gia cảnh - năng lực của họ...

Có thể bạn quan tâm