Vùng cao Sơn La nỗ lực vượt khó

Sơn La là một trong những tỉnh miền núi nghèo, khó khăn. Theo số liệu điều tra mới đây, 92% số xã trong toàn tỉnh chỉ đạt không quá 3/19 tiêu chí nông thôn mới, còn hơn 76 nghìn hộ nghèo, chiếm 34% số hộ, 1.005 bản đặc biệt khó khăn, 5/11 huyện, thành phố thuộc diện khó khăn đang hưởng chính sách hỗ trợ của Chính phủ.
Người dân xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Sơn La,cho hiệu quả kinh tế cao.         
Người dân xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Sơn La,cho hiệu quả kinh tế cao.         

Dù nỗ lực rất lớn, nhưng xem ra công tác xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở vùng cao Sơn La vẫn còn nhiều việc phải làm.

Vùng cao còn nghèo khó

Từ thành phố Sơn La đi đến cầu Mường La rẽ phải, rồi cứ thế ngược dốc, sau gần hai giờ đồng hồ, chiếc xe u-oát của chúng tôi mới "bò" được 30 km lên những đỉnh núi thuộc dãy Hoàng Liên cao hơn 1.800 m. Mây trắng vờn bay dưới chân, con suối Pia đổ ra sông Ðà giờ bé như sợi chỉ khiến cho người ta có cảm giác bồng bềnh giống như đang ở trên máy bay. Ðó là chuyến đi nhiều ý nghĩa dự cuộc gặp mặt những người có uy tín tiêu biểu ở vùng cao cụm xã Chiềng Ân, huyện Mường La, do Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Sơn La tổ chức.

Vừa đi đường vừa nói chuyện, đồng chí  Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Sơn La Thào Sếnh Páo kể: "Chính vì những ngọn núi hiểm trở này mà quân Pháp mấy phen mò lên đều thất bại. Trên núi, du kích cùng đồng bào Mông dùng bẫy đá bất thần đổ xuống làm giặc Pháp khiếp sợ, thế nên nơi đây trở thành vỏ bọc cho khu căn cứ cách mạng 99". Rồi đồng chí bảo: "Ta vừa tổ chức kỷ niệm 60 năm Ngày giải phóng Sơn La. Thời gian trôi nhanh quá! Nghĩ đến vùng cao, vẫn canh cánh bên lòng vì chưa làm gì nhiều. Cuộc sống của đồng bào mình vẫn còn nghèo quá...".

Ngày mới giải phóng, trung tâm cụm xã Chiềng Ân mới có vài chục nóc nhà lúp xúp, bây giờ đã phát triển tách ra thành ba bản Nong Trên, Nong Sàn, Nong Bông, với hơn 240 hộ gia đình đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Ðổi thay nhìn thấy rõ nhất có lẽ là có con đường lên vùng cao và cụm trường học hai tầng hiện ra trong nắng. Từ xa, có thể nhìn thấy trạm thu phát sóng truyền hình... Chủ tịch UBND huyện Mường La Lường Văn Thịnh cho biết: Huyện đã nhiều lần bàn, đưa vào nghị quyết của HÐND huyện đến năm 2015 phải cơ bản xây dựng xong hạ tầng thiết yếu, như: đường, trường học, trạm y tế, trụ sở xã, chợ cho vùng cao, nhưng đến nay nhiều phần việc còn dang dở, có công trình chưa cân đối được nguồn vốn. Ở cụm năm xã vùng cao này chưa một xã nào có trụ sở mới, tất cả vẫn đang chờ nguồn vốn từ tỉnh và Trung ương. Trụ sở UBND xã Chiềng Ân, vẫn chỉ là mấy gian nhà cấp bốn đã xuống cấp chênh vênh bên mái ta-luy. Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi được biết, không chỉ ở Mường La mà tất cả vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La đều trong tình trạng như vậy.

Ðường giao thông được ví là huyết mạch của nền kinh tế, ở đâu có đường thì ở đó kinh tế - xã hội phát triển, điều này với vùng cao càng đúng. Chương trình 135 giai đoạn I của Chính phủ đã giúp tỉnh Sơn La nhựa hóa đường giao thông đến 13 trung tâm cụm xã. Nhưng một chỉ tiêu nhỏ ấy cũng phải trải qua ba nhiệm kỳ lãnh đạo từ năm 1990 đến năm 2005 tập trung quyết liệt mới giải quyết xong. Ðến nay, hầu hết đường ô-tô đã mở về đến 100% số xã trong tỉnh, nhưng còn 78/190 xã ô-tô không đi được bốn mùa, còn 19 bản chưa có đường ô-tô. Hệ thống đường giao thông ở Sơn La hình thành 17 tuyến tỉnh lộ dài 906 km, 105 tuyến huyện dài 1.754 km và 1.480 tuyến xã dài 5.792 km. Ðây là những con số đã góp phần tạo nên sự đổi thay căn bản bộ mặt đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc Sơn La.

Có đường nhưng đường xấu quá, nhất là đường từ huyện về xã, đường xuống bản, thường xuống cấp sau mỗi mùa mưa bão. Do đặc điểm thời tiết, điều kiện tự nhiên, địa hình cát cứ là nguyên nhân chính làm cho giao thông ở đây rất khó khăn. Trong khi đó, nguồn vốn bố trí đầu tư cho giao thông làm theo kiểu rải mành mành, phân kỳ, định mức thấp, tiêu chuẩn đường chưa phù hợp làm đường miền núi nhanh xuống cấp. Ðường từ thị trấn Bắc Yên lên vùng cao Tà Xùa dài 14 km, làm từ những năm 60 của thế kỷ trước, thế mà mới đây ô-tô mới đi được. Còn quốc lộ 4G nối Sơn La - Sông Mã được cải tạo, nâng cấp quá nhiều lần, dự án nọ vừa nghiệm thu thì lại lập dự án kia nâng cấp. Cách làm ấy có thể là một trong những nguyên nhân làm cho vùng cao Sơn La vốn đã khó còn khó hơn... 

Những mô hình mới

Ngoài những chuyện chưa vui thì hôm nay đi đến bất cứ huyện nào, vùng cao nào ở Sơn La đều xuất hiện những mô hình làm ăn mới, xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Rõ nét nhất là có sự chuyển biến căn bản trong nhận thức của bà con về chuyển đổi sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, sử dụng giống mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trước đây, trồng ngô giống địa phương năng suất chỉ 2-3 tấn/ha, nay tất cả các xã, bản, bà con người Thái ở vùng thấp hay bà con người Mông, La Ha, Khơ Mú ở vùng cao đều lựa chọn ngô giống mới để trồng, năng suất tăng gấp bốn đến năm lần. Hằng năm, riêng cây ngô ở vùng cao cho thu hoạch hàng chục nghìn tấn, mang lại hàng trăm tỷ đồng. Hiện nay, mô hình sản xuất chủ yếu ở vùng cao Sơn La là các cây trồng cạn, như: ngô, lúa, đậu đỗ, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhiều nơi đã biết phát huy thế mạnh, điều kiện tự nhiên để phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững.

Vượt đỉnh Xam Xíp cao 1.500 m, chúng tôi lên vùng cao bản

Nậm Nghiệp, xã Ngọc Chiến (Mường La), nơi đây chỉ có đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Ông Tráng A Sử, Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Chiến, cho biết: Vụ táo sơn tra năm 2012, bản Nậm Nghiệp thu hơn hai tỷ đồng, bình quân mỗi hộ gia đình thu từ 20 đến 50 triệu đồng tiền táo. Ðiều kiện tự nhiên ở đây phù hợp cây táo nên từ nhiều năm nay bà con người Mông bản Nậm Nghiệp đã khoanh rừng, trồng táo sơn tra. Từ năm 2010 đến nay, bà con đã trồng thêm 150 ha cây táo sơn tra, mở rộng diện tích lên 600 ha. Cùng với chăn nuôi gia súc, bảo vệ rừng, bà con nơi đây đang từng bước đẩy lùi nghèo đói, ổn định cuộc sống. Ngoài mô hình trên, ở vùng cao Sơn La còn rất nhiều mô hình sản xuất tiêu biểu khác, như: mô hình chuyển đổi từ cây lúa nương sang trồng cà-phê của bà con ở bản Hua Lỷ, xã Chiềng Khoang (Quỳnh Nhai); mô hình trồng chè của ông Lầu A Sa, dân tộc Mông ở tiểu khu Pa Khen I thị trấn nông trường Mộc Châu thu nhập 80 triệu đồng/năm; mô hình trồng cây sơn tra và khai hoang ruộng bậc thang của ông Giàng Páo Của, dân tộc Mông ở bản Nậm Lộng, xã Hang Chú (Bắc Yên); mô hình VAC phát triển kinh tế trang trại của ông Lò Văn Vui, dân tộc La Ha, ở bản Pá Xá Hồng, xã Chiềng Ân (Mường La),...

Ðiểm chung các mô hình phát triển kinh tế của bà con vùng cao Sơn La là sự thay đổi trong nhận thức, ý chí vượt khó làm giàu. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ sản xuất và đời sống, các hộ từ nghèo khó đã vươn lên làm ăn tích lũy. Nhiều hộ ngoài làm giàu cho gia đình mình, còn tương trợ giúp giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất cho anh em họ hàng trong bản, nên các mô hình sản xuất mới ở Sơn La giờ không chỉ bó hẹp trong vài hộ đơn lẻ mà đã tạo nên vùng sản xuất chuyên canh, mang lại giá trị hàng hóa kinh tế cao. Bây giờ, nói đến ngô người ta nhắc đến các xã biên giới Phiêng Khoài, Lóng Luông (Yên Châu). Thương lái trâu bò dưới xuôi thì tìm đến các xã Co Mạ, Long Hẹ, É Tòng (Thuận Châu). Người muốn mua táo sơn tra thì tìm về các xã vùng cao Xím Vàng, Hang Chú, Làng Chếu (Bắc Yên) và Ngọc Chiến, Chiềng Muôn (Mường La).

Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ 13 xác định: Ðối với vùng cao, phát huy tiềm năng thế mạnh, bảo vệ rừng, phát triển cây, con hợp lý và tập trung phát triển chăn nuôi gia súc. Ðể người dân vùng cao thoát đói nghèo, phát triển bền vững, trong những năm tới tỉnh Sơn La đang triển khai thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 2-1-2010 của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh về ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân ở các bản có điều kiện kinh tế - xã hội còn đặc biệt khó khăn (giai đoạn 2010-2015). Ðây là một chủ trương đúng, một "cú huých" đủ mạnh cho vùng cao vươn dậy.

Cơ chế, chính sách và cách làm

Ðể hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao ổn định đời sống sản xuất, từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách. Giúp chúng tôi hiểu rõ hơn vấn đề này, Phó Ban Dân tộc tỉnh Sơn La Nguyễn Vũ Ðiền giải thích rành mạch từng phần chính sách, nội dung các quyết định, chương trình, dự án. Lúc chia tay, đồng chí nói một câu làm tôi nhớ mãi: "Muốn làm tốt công tác dân vận thì việc gì cũng biết và phải có tâm mới làm được!". Khi đi cơ sở, mắt thấy tai nghe, hiểu khó khăn của đồng bào, ngẫm ra câu nói ấy thật chí lý.

Theo tổng hợp báo cáo công tác của Ban Dân tộc tỉnh, năm 2012, Ban trực tiếp quản lý triển khai 11 chương trình lớn nhỏ, với tổng số vốn hơn 573 tỷ đồng, gồm: Chương trình 135 giai đoạn II, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất, cấp không sách báo, đào tạo,... Bắt đầu từ năm 2007 một loạt các chương trình theo các quyết định 1592, 32, 33, 102 của Chính phủ đầu tư trực tiếp đến người dân đã được bà con vui mừng đón nhận. Ðặc biệt, triển khai Quyết định số 18/2011/QÐ-TTg ưu đãi đối với người có uy tín trong cộng đồng đã được các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ là những người lâu nay góp nhiều công sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân đánh giá cao. Toàn tỉnh đã lựa chọn hơn 2.900 người có uy tín hưởng chính sách ưu đãi của Ðảng và Nhà nước. Ðây là những việc làm thiết thực, tác động đến tâm tư, tình cảm của đồng bào. 

Quá trình quản lý điều hành các chương trình dự án cũng đang cho thấy những bất cập. Ðó là, ngoài Ban Dân tộc tỉnh, hiện nay, Chương trình 30a do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiên cố trường học, lớp học do Sở Giáo dục và Ðào tạo, mạng lưới y tế do ngành y tế theo dõi,... Ngoài ra, còn các Ban QLDA di dân tái định cư tỉnh, Ban QLDA giảm nghèo, Ban QLDA 1460,... với nguồn vốn lên đến hàng nghìn tỷ đồng, nếu không được quản lý, giám sát chặt chẽ sẽ gây thất  thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, có quá nhiều cơ quan và các cấp tham gia vào quá trình quản lý, đang gây sự chồng chéo, chi phí quản lý lớn. Ðầu năm 2012, tỉnh Sơn La đã thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo, ổn định định canh định cư và xây dựng nông thôn mới nhằm "khâu lại" để quản lý, theo dõi các nguồn vốn, nhưng chức năng, nhiệm vụ và nhất là quyền hạn chưa rõ nên vấn đề này còn khó khăn. Tình trạng có quá nhiều chương trình, dự án đang dồn vào cấp huyện, nhiều công trình dở dang, kéo dài nhiều năm, dẫn đến phải điều chỉnh bổ sung vốn, hiệu quả kém. Rất cần vốn đầu tư cho vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, nhưng đi kèm với đó cần công tác quản lý, cách làm nhanh, hiệu quả. Có lẽ đã đến lúc lĩnh vực này cần các cơ quan tham mưu nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý mới theo hướng gọn, giảm bớt trung gian, hạn chế dàn trải, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, mới có sự chuyển biến thật sự.

Có thể bạn quan tâm