Nỗi đau còn lại
Ngày 10/8/1961, những chuyến bay đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ rải chất độc hóa học xuống miền nam Việt Nam, khởi đầu cho bi kịch da cam kéo dài qua nhiều thế hệ. Theo thống kê, khoảng 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin; hàng trăm nghìn người đã qua đời, hàng triệu người khác vẫn đang sống chung với di chứng. Hậu quả chất độc da cam/dioxin tiếp tục di truyền sang thế hệ thứ ba, thứ tư, gây dị tật bẩm sinh, mắc bệnh hiểm nghèo hoặc mất khả năng lao động.
Những con số ấy không thể kể hết nỗi đau của những gia đình như ông Địu. Sau chiến tranh, vợ chồng ông sinh được 15 người con, đến nay có ba người còn sống, trong đó chỉ một người phát triển bình thường.
Đỗ Thị Hằng là con gái thứ hai của ông Địu. Ngày chào đời, em nằm bất động, liệt nửa người. Cuộc đời Hằng gắn liền với những hành lang bệnh viện và tám cuộc phẫu thuật kéo dài từ tuổi thơ đến khi trưởng thành.
Ca mổ đầu tiên diễn ra khi các bác sĩ phát hiện em bị não úng thủy. Chưa đầy một tháng sau, Hằng tiếp tục trải qua ba cuộc phẫu thuật do dị tật bẩm sinh nứt đốt sống. Các bác sĩ phải khớp nối, nắn chỉnh từng đốt sống để giúp em có thể đứng lên bằng đôi chân của mình. Nhưng bi kịch chưa dừng lại. Đến tuổi trưởng thành, những cơn đau dữ dội buộc Hằng phải nhập viện cấp cứu. Bác sĩ phát hiện em bị u xơ tử cung biến chứng, buộc phải cắt bỏ tử cung và buồng trứng. “Da cam đã cướp đi một nửa cuộc đời tôi. Nó lấy mất quyền được học tập, được yêu thương, được làm mẹ của tôi”, Hằng nghẹn ngào chia sẻ.
Suốt hơn 10 năm sau đó, vợ chồng ông Địu đã lặn lội khắp các bệnh viện, bán đàn gà, đàn vịt, cầm cố sổ đỏ, sổ hưu để vay mượn, giành giật sự sống cho con gái...
“Màu của hy vọng”
Là nạn nhân chất độc da cam thế hệ thứ hai, từ khi sinh ra, cơ thể anh Đỗ Hà Cừ (tỉnh Hưng Yên) gần như bất động, chỉ duy nhất ngón tay trỏ bên phải là cử động. Năm 10 tuổi, khi xem truyền hình và thấy những người khiếm thị học chữ nổi, Cừ hỏi mẹ: “Con có đôi mắt sáng, tại sao con lại không học được?”. Câu hỏi ấy đã mở ra hành trình nhiều năm bền bỉ của bà Nguyễn Thị Kim Sơn dạy con biết đọc, biết viết. Phải mất hai năm kiên trì, Cừ mới có thể tự đọc những dòng chữ đầu tiên.
Đỗ Hà Cừ từng bước tìm lại ý nghĩa cuộc sống, để rồi năm 2015, anh sáng lập thư viện “Không gian đọc Hy vọng”. Đến nay, thư viện nhỏ ấy đã đón hàng chục nghìn lượt độc giả, trở thành nguồn cảm hứng cho sự ra đời của hơn 30 không gian đọc dành cho người khuyết tật trên cả nước.
Chỉ với một ngón tay duy nhất có thể cử động, Cừ đã dành sáu năm để hoàn thành cuốn tự truyện “Màu của hy vọng” dày gần 400 trang.
Cuốn sách là hành trình vượt qua bóng tối của chính anh, kể về những cơn đau thể xác, những khoảnh khắc tuyệt vọng của một chàng trai từng muốn buông xuôi, đồng thời khắc họa tình yêu vô tận của người mẹ, người đã kiên trì dạy từng con chữ và chắp cánh cho những ước mơ tưởng chừng không thể thành hiện thực.
Những vòng tay nhân ái
Sự hồi sinh kỳ diệu của Đỗ Thị Hằng không chỉ đến từ nghị lực và tình yêu thương của cha mẹ mà còn được tiếp thêm sức mạnh từ những vòng tay nhân ái. Năm 2000, Hằng được tiếp nhận về chăm sóc, nuôi dưỡng tại Làng Hữu nghị Việt Nam, tại Hà Nội.
Trong hơn 20 năm gắn bó nơi này, Làng đã trở thành mái ấm, là điểm tựa cho Hằng vượt qua nỗi đau. Giờ đây, Hằng đã vững vàng hơn, có thể tự tay làm những bông hoa, những tấm bưu thiếp và ước mơ mở cửa hàng online để phụ giúp gia đình.
Ngày 7/8 vừa qua, Hằng cùng gia đình trở lại thăm Làng Hữu nghị Việt Nam. Tại buổi lễ mít-tinh kỷ niệm 65 năm Ngày Thảm họa da cam, em xúc động chia sẻ: “Nếu không có tình yêu thương của các cô, các chú ở Làng Hữu nghị Việt Nam, tôi khó có thể vượt qua những biến cố nghiệt ngã của cuộc đời”.
Tại buổi lễ, lãnh đạo Làng đã trao tặng Hằng 40 triệu đồng vốn hỗ trợ, giúp em thực hiện ước mơ bán hàng trực tuyến, từng bước tự lập cuộc sống. Trước đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ứng dụng Kỹ thuật và Sản xuất Tecapro (Bộ Quốc phòng) cũng trao tặng Hằng 20 triệu đồng cùng một chiếc máy tính, đồng thời hỗ trợ Đỗ Hà Cừ 20 triệu đồng để phát triển dự án lan tỏa văn hóa đọc.
Dù mang trên mình những vết thương chiến tranh và di chứng chất độc da cam, ông Hồ Quốc Minh ở xã Tân Hưng, tỉnh Tây Ninh, vẫn luôn tâm niệm: “Tôi còn may mắn hơn rất nhiều đồng đội vì vẫn được sống và trở về với gia đình”. Thấu hiểu nỗi đau của những nạn nhân, nhiều năm qua, người thương binh ấy luôn tiên phong trong các hoạt động nhân đạo tại địa phương.
Năm 2023, chứng kiến hoàn cảnh khó khăn của gia đình bà Hồ Thị Sương, vợ liệt sĩ có con bị di chứng chất độc da cam, ông đã hiến 100 m² đất thổ cư để xây nhà tình nghĩa. Từ khoản trợ cấp thương binh hằng tháng, ông còn dành 60 triệu đồng sửa chữa nhà cho hai gia đình chính sách khác và thường xuyên tặng quà cho các hộ nghèo, nạn nhân chất độc da cam vào dịp lễ, Tết.
Để không ai bị bỏ lại phía sau
Trong hành trình vượt qua nỗi đau da cam, hàng triệu nạn nhân luôn có sự đồng hành bền bỉ của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Hơn 20 năm qua, Hội đã trở thành cầu nối giữa những phận đời bất hạnh với cộng đồng, đồng thời là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.
Giai đoạn 2021-2025, Hội đã vận động hơn 2.424 tỷ đồng, trong đó gần 2.314 tỷ đồng được sử dụng để xây dựng, sửa chữa nhà ở, trao quà, hỗ trợ vốn sản xuất, tạo sinh kế, chăm sóc và nuôi dưỡng nạn nhân da cam.
Những năm gần đây, hoạt động hỗ trợ ngày càng hướng đến những giải pháp lâu dài hơn như cho vay vốn, trao công cụ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, giúp nạn nhân và gia đình từng bước tự chủ và hòa nhập cộng đồng.
Tuy vậy, vẫn còn những người chịu ảnh hưởng của chất độc da cam nhưng chưa được hưởng đầy đủ chính sách hỗ trợ, trong đó có người từng làm nhiệm vụ tại các vùng tồn lưu dioxin sau năm 1975, người dân sống ở khu vực từng bị rải chất độc hóa học và các nạn nhân thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư.
Việc rà soát, sửa đổi chính sách, mở rộng diện thụ hưởng, tăng cơ hội giáo dục, việc làm và sinh kế cho nạn nhân chất độc da cam vẫn cần tiếp tục thực hiện, nhằm bảo đảm không ai phải gánh chịu thiệt thòi do hậu quả chiến tranh để lại.