Chuyện gì đã xảy ra?
Cuộc khủng hoảng ở Iceland bắt nguồn từ món nợ ngoại tệ khổng lồ mà các ngân hàng lớn nhất nước này đang phải gánh. Theo số liệu của Reuters, ba ngân hàng lớn nhất Iceland là Kaupthing, Landsbanki và Glitnir đang nợ tổng cộng 62 tỷ USD, cao hơn ba lần tổng sản phẩm quốc nội của nước này là 19 tỷ USD.
Chỉ trong vòng bốn ngày, bắt đầu từ hôm thứ hai tuần trước, Iceland đã lần lượt tiếp quản hầu hết các ngân hàng lớn nhất nước, tạm thời đóng cửa toàn bộ thị trường chứng khoán, tăng lãi suất cơ bản lên 15,5% nhằm ngăn chặn đồng krona tiếp tục mất giá.
Điều gây tranh cãi nhất chung quanh quyết định quốc hữu hóa các ngân hàng lớn của Iceland là chính phủ tuyên bố sẽ tách bạch hoạt động ở trong nước với hoạt động ở nước ngoài của các ngân hàng này và không có ý định tiếp quản các khoản nợ đối với khách hàng nước ngoài.
Kể từ thứ ba tuần trước, 300 nghìn khách hàng người Anh đã không thể rút tổng cộng 6,91 tỷ USD tiền gửi qua mạng Icesave của ngân hàng Landsbanki. Bên cạnh đó, tài khoản của các khách hàng ở khắp châu Âu, bao gồm nhiều công ty và chính phủ bị hấp dẫn bởi lãi suất cao cuả ngân hàng Iceland, cũng bị đóng băng. Trong số đó, chỉ riêng cơ quan điều hành hệ thống tàu điện ngầm ở Luân Đôn đã có đến 6,9 tỷ USD đang bị kẹt.
Ngay lập tức, Bộ Tài chính Anh gửi đại diện đến Iceland để bảo đảm những người dân Anh gửi tiền ở ngân hàng của Iceland không bị thiệt hại.
Hai tuần trước khi một loạt ngân hàng của Iceland bên bờ vực phá sản và các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn với tốc độ báo động, IMF đã gửi phái viên đến đây để xem xét khả năng hỗ trợ Iceland. Tuy nhiên, Iceland liên tục từ chối vay tiền của IMF, và cho biết, sẽ vay tiền của một số nước, trong đó có Nga và Đan Mạch.
Song, với con số thâm hụt ngày càng lớn và các ngân hàng hàng đầu đều đã sụp đổ vì nợ trong bối cảnh đồng nội tệ (krona) mất giá trầm trọng, thì hôm qua đã có dấu hiệu cho thấy Iceland sẽ phải cầu viện đến sự can thiệp của IMF để đưa nước này ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất từ trước đến nay.
Cũng trong ngày hôm qua, Nga đã đồng ý cho Iceland vay 4 tỷ euro (5,5 tỷ USD) – hành động được coi là nhằm tăng cường ảnh hưởng về địa chính trị của nước Nga và là một đóng góp của nước Nga nhằm chấm dứt cuộc khủng hoảng đang lan rộng trên toàn cầu.
Những ngày qua, một phần nguyên nhân mất giá của đồng krona là do các nhà buôn ngoại tệ rút tiền ồ ạt để tháo chạy. Đó là những nhà đầu tư vay tiền từ các nước có lãi suất thấp như Nhật Bản để đầu tư vào các nước có lãi suất cao hơn, và đương nhiên, rủi ro cũng cao hơn, như Iceland.
Đối với người dân trong nước, khi đồng krona mất giá, khoản nợ bằng ngoại tệ của họ bỗng chốc bị phình ra gấp đôi và giá các mặt hàng nhập khẩu cũng đều tăng.
Iens Einarsson, 30 tuổi, một kỹ sư ở thủ đô Reykjavik, nói anh đã cảm nhận được tác động của của việc đồng krona mất giá. Anh có một khoản nợ thế chấp bằng đồng kroner Đan Mạch. “Khoản tiền tôi phải trả giờ tăng vọt. Chúng tôi phải chi tiêu ít đi vì sau khi trả nợ bằng đồng kroner Đan Mạch, chúng tôi chẳng còn gì.”
Còn bà Thrudur Kristjansdottir, 64 tuổi, nhân viên ngành bưu điện đã về hưu, cho biết khi giá các mặt hàng nhập khẩu đều tăng bà phải chi tiêu rất chi li và cố gắng tìm mua những mặt hàng rẻ tiền.
Rơi xuống từ đỉnh cao
| Khi một quốc gia bị phá sản, có nghĩa là quốc gia đó mất khả năng thanh toán các khoản nợ hoặc mất khả năng thanh toán các mặt hàng nhập khẩu bằng ngoại tệ. Trong trường hợp đó, họ sẽ phải vay tiền của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc các nước khác. Nếu không làm được như vậy, họ sẽ không thể nhập khẩu các mặt hàng và dịch vụ cần thiết. Đây là một vấn đề đặc biệt rắc rối đối với Iceland, nước phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu. Trong quá khứ, IMF đã cho các nước thành viên vay tiền như một thứ đòn bẩy nhằm thay đổi chính sách tài chính và kinh tế ở các nước đó. Tuy nhiên, việc cho vay tiền cũng từng bị chỉ trích là luôn gắn với yêu cầu về định hướng thị trường tự do. Hôm thứ năm vừa qua, IMF tuyên bố sẽ kích hoạt cơ chế khẩn cấp, cho phép định chế tài chính này ra quyết định cho các nước vay trong vòng năm đến 10 ngày. |
“Chưa có quốc gia phương tây nào sụp đổ trong thời bình nhanh và tồi tệ đến như vậy,” ông Jon Danielsson, phó giáo sư tài chính ở Trường Kinh tế Luân Đôn nói.
Tổ chức nghiên cứu kinh tế lớn nhất thế giới Global Insight của Mỹ hôm thứ năm cũng đưa Hungary và Ukraine vào danh sách những nước mà ngành ngân hàng sẽ bị chấn động mạnh.
“Cả hai (Hungary và Ukraine) đều ở trong tình trạng tương tự như Iceland,” nhà phân tích Toby Wight thuộc tổ chức Global Insight nói. “Hệ thống ngân hàng ở cả hai nước rất mong manh do mức độ huy động và cho vay bằng ngoại tệ đều cao.”
Sự sụp đổ của Iceland đã chấm dứt câu chuyện thành công kéo dài hàng thập kỷ của đất nước Bắc Âu nhỏ bé chỉ hơn 300 nghìn dân nhưng có hệ thống ngân hàng khổng lồ sở hữu số tài sản lớn gấp chín lần tổng sản phẩm quốc nội.
Từ một nước nghèo ở châu Âu, nhờ cải cách hệ thống ngân hàng và xây dựng thị trường chứng khoán từ giữa những năm 1990, Iceland trở thành một trong những nước giàu nhất ở khu vực với đội ngũ hùng hậu những doanh nhân đẳng cấp quốc tế.
Ngày nay, Iceland là một trong những nước có thu nhập tính theo đầu người cao nhất thế giới – 40.000 USD/người so với mức 45.800 USD/người của Mỹ. Thu nhập trung bình của các gia đình Iceland tăng 45% trong năm năm qua và GDP tăng trung bình 5% mỗi năm. Năm trước, theo một cuộc bầu chọn do LHQ tổ chức, Iceland còn được xem là quốc gia nơi người dân cảm thấy mãn nguyện nhất trên thế giới.
Mọi sự không còn được như vậy nữa. Ngành ngân hàng lúc phát triển cực thịnh từng khiến người Iceland tự tin rằng sẽ có ngày họ chinh phục mọi lĩnh vực đầu tư ở Anh, từ thời trang đến bóng đá đỉnh cao. Các tập đoàn và ngân hàng lớn của Iceland đều có cổ phần hoặc sở hữu hàng chục công ty ở khắp châu Âu, đặc biệt là ở Anh. Nhưng giờ đây, hệ thống tài chính này đang có nguy cơ sụp đổ do được xây dựng trên nền móng nợ nước ngoài thiếu vững chắc.
Hôm thứ sáu, khoảng 200 người Iceland đã tụ tập bên ngoài trụ sở Ngân hàng trung ương ở thủ đô, đòi thống đốc Ngân hàng trung ương David Oddsson từ chức. Ông Oddsson, khi còn là Thủ tướng Iceland, đã góp phần tạo ra một nền tài chính phát triển quá nóng trên sân chơi toàn cầu.