Vân  Mai - người  của ca trù

Vân  Mai - người  của ca trù

Duyên nghiệp ca trù

Theo lời giới thiệu của một nhà nghiên cứu ca trù, tôi tìm gặp Vân Mai tại cửa hàng kinh doanh sứ vệ sinh, xây dựng ở số 20 Bích Câu, Hà Nội – nơi chị làm bà chủ.

Giữa không gian chẳng liên quan gì đến lối hát tao nhã bác học bậc nhất của âm nhạc truyền thống, chị ngồi say sưa nói về ca trù và thỉnh thoảng không kìm lòng được, lại cất giọng ứ hự một vài làn điệu, nghe cứ nhẹ như không. Khách đến mua hàng đành đứng lặng nghe, có chị hàng xóm còn mang sang mấy cốc cà phê cho cả khách lẫn chủ, để “có cớ” ngồi nghe Vân Mai nói, hát ca trù.

Tôi hỏi làm sao mà chị hát được Non mai Hồng hạnh, một điệu hát cổ mà theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, là “cho đến nay không còn ca nương nào hát được”, kể  từ thế hệ ca nương trước như bà Kim Đức, bà Nguyễn Thị Chúc đến thế hệ trẻ thành danh ngày nay như Thuý Hoà? Chị chỉ thoáng cười nhẹ: “Chị cũng chẳng biết, có lẽ là nhờ chất giọng trời phú. Bởi vì hát  Non mai là phải hát giọng thật, chỉ cần lên cao một chút là lạc, không hát được". Và chị hát thử cho tôi nghe, đúng giọng thật, trầm, giòn, nẩy, linh thiêng và tha thiết.

Chị kể, mê hát ca trù và tập hát chừng mấy năm, chị được nhạc sĩ Đặng  Hoành Loan, khi đó còn là Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc, người trực tiếp nghiên cứu, điền dã và chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng hồ sơ ca trù trình UNESCO, biết đến. Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan mang đến cho chị một đĩa CD ca trù, và bảo, trong đó có một điệu mà ông rất thích, điệu Non mai, nhưng đến giờ không còn ai hát được, chị thử xem.

Chị cầm cái đĩa ấy về nhà, nghe Non mai liền trong hai mươi ngày, thậm chí khi đi nghỉ mát ở biển cùng gia đình, chị cũng mang theo. Khi nghe đã thấm, chị bắt đầu tập. Một tháng sau, khi cảm thấy mình hát được được hơi giống trong đĩa rồi, chị nhắn tin cho nhạc sĩ Đặng Hoành Loan đến nghe thử. Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan gọi cả TS. Nguyễn Xuân Diện đến. Và chị ngồi hát, ban đầu thì rất run, nhưng khi cất giọng tự nhiên thấy mình như siêu thoát, cứ thế mà “rút ruột nhả tơ”. Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan lặng đi, rồi bảo: “Em ơi, tốt quá, điệu hát này “mất tích” gần 70 năm nay, anh chưa thấy ai hát đạt, không hiểu sao mà em lại hát được nhỉ”?

Sau lời nhận xét đó, chị cảm thấy mình như kẻ bơi giữa biển, đã đến lúc nhìn thấy bờ. Và chị hiểu, dù sinh ra trong một gia đình chẳng dính dáng gì đến ca trù, và dù ca trù chỉ đến với chị như một nỗi đam mê tình cờ không định trước, nhưng ca trù dường như đã là duyên nghiệp từ tiền kiếp.

Vợ chồng chị Vân Mai trong một buổi ghi hình tại VTV.

Say mê và khổ luyện

Hạnh phúc khi thừa nhận mình có chất giọng đẹp để hát ca trù, nhưng Vân Mai cũng hiểu rõ, hát ca trù đòi hỏi kỹ thuật và sự khổ luyện vào bậc nhất trong các lối hát.

Từng ở đoàn văn công quân đội, cũng từng say mê hát chèo, quan họ, thậm chí cả chầu văn, nhưng chưa có lối hát nào làm cho chị bận tâm và khổ luyện như ca trù. Chị bảo, ca trù cần đủ bốn yếu tố ngân, rung, nhấn, vuốt. Riêng kỹ thuật nẩy hột, chị phải đi tìm hiểu, “học mót” từ hết người này sang người kia, chỗ nọ sang chỗ kia. Và chị khám phá rằng, chị đã học được cách hát nẩy hột của ca trù từ các cụ hát… quan họ. Đó là cách lấy hơi từ trong gan ruột, nẩy hột từ trong gan ruột. Còn nếu chỉ từ cổ họng, tiếng nẩy nghe như tiếng gằn, tiếng rên, người trong nghề nghe sẽ rất khó chịu.

Rồi còn học gõ phách. Vân Mai kể, chị mê nhất tiếng phách của bà Kim Đức và đã hơn ba lần khăn gói đến nhà bà xin được làm học trò. Nhưng với các nghệ nhân ca trù không phải ai cũng dễ dàng được họ truyền nghề. Cho đến giờ, chỉ có mỗi Bạch Dương là được nghệ nhân Kim Đức dạy hát, Bạch Dương cũng chính là người được bà nhận làm con nuôi.

Vợ chồng Vân Mai lần đầu đến diện kiến bà Kim Đức, bà bảo, cô về theo lớp dạy hát của các câu lạc bộ, chỉ ba tháng là hát được, đầy ra ngoài kia, học tôi lâu lắm, học làm gì cho mất công. Bà ngỡ, cũng như một số người khác, nghĩ học hát ca trù để… đi kiếm tiền. Nhưng chồng Vân Mai bảo: “Bà ơi, nhà con có một cửa hàng kinh doanh, cô ấy bỏ đi học hát ca trù thế này, mỗi tháng mất hàng trăm triệu đồng đấy bà ạ”.

Vậy là không phải hát để kiếm tiền, cái nhìn của bà Kim Đức với chị cũng đã khác. Nhưng bà vẫn chưa nhận lời.

Lần thứ hai, vợ chồng chị lại lặn lội đi xe máy về nhà bà Kim Đức. Lần này chị “khôn” hơn, mang theo cả cuốn băng ghi âm chị hát, đến nơi mở cho bà nghe, đấy bà ạ, con biết hát, và hát được ca trù, bà dạy cho con nhé. Bà nghe xong lại bảo, cô hát được như thế, chắc phải học ở đâu rồi , bà không dạy nữa. Nói kiểu gì bà cũng không nhận.

Lần thứ ba, vợ chồng chị lại đến, thôi thì bà không dạy con hát cũng được, bà dạy con gõ phách, con mê nhất tiếng phách của bà . Năn nỉ một buổi, bà thương quá, nhưng thật tình bà già rồi, lại bận không có thời gian để dạy. Bà lục tìm đưa cho chị một ít đĩa ghi từ xưa của bà, thế là bà quý lắm rồi đấy.  Chị sung sướng cầm cái đĩa Dấu đẹp Hồ Gươm về nhà, và bắt đầu lắng nghe từng nhịp phách, học mò, mà không biết bắt đầu từ đâu.

Thích tập hơn là hát

Sau lần thứ ba đến nhà nghệ nhân Kim Đức, chị vẫn không thôi ý nghĩ phải tìm thầy học hát cho bài bản. Chồng chị lại chiều theo ý chị, chở chị bằng xe máy sang Lỗ Khê, tìm đến bà Mùi. Sau khi dâng hương lễ Tổ ca trù ở đó, chị vào thăm bà, thì tiếc thay, bà đã già yếu lắm rồi. Ngồi nói chuyện với bà, cố gắng lắm mà cũng không làm sao nói cho bà biết được mình đang muốn gì. Chị kể, lúc đấy, chị gần như bật khóc. Ba tháng sau đó thì bà Mùi mất.

Sau đó, nghĩ cũng chẳng còn biết ai để tìm học nữa, chị đành phải tự học qua băng đĩa. Từ một số băng đĩa cũ của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, một số của TS. Nguyễn Xuân Diện mang cho, chị chủ yếu học qua giọng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ, Đinh Thị Bản, và một ít của nghệ nhân Kim Đức, một ít  của bà Mùi… Dù bận bịu với công việc kinh doanh, nhưng chị vẫn đều đặn dành ra mỗi ngày 3 giờ đồng hồ, buổi sáng một tiếng rưỡi và buổi chiều một tiếng rưỡi, để tập hát và gõ phách. Chị nói, chị thích tập hơn cả đi biểu diễn, vì mỗi lần tập là một lần khám phá, một lần thử sức vượt qua chính mình. Nhiều người xem chị tập hát, đã nhận xét rằng, mỗi lần tập là chị lại một lần “đốt cháy mình”, để hôm sau lại xoá đi làm lại, hứng khởi và say mê như chinh phục lần đầu.

Giờ thì chị đã hát được khoảng 20 làn điệu, từ những bài cơ bản như Tỳ bà hành, Nhịp ba cung bắc… đến những bài khó như Non mai, Phan Trần, Thét nhạc, Ngâm vọng…

Nỗi đam mê của chị đã khiến cho anh Trúc chồng chị, một người lúc đầu gần như xa lạ, ngoại đạo, cũng mày mò đi học đàn, và nhờ sự giúp đỡ của nghệ nhân Nguyễn Văn Khuê, giờ thì anh chị đã có thể chồng đàn vợ hát. Bây giờ, đều đặn mỗi tháng một lần,  anh chị đi biểu diễn ca trù ở Bảo tàng Dân tộc học, trong chương trình bảo tồn của Quỹ Ford tài trợ.

Thỉnh thoảng, chị cũng được các đài VTV, VTC, VOV mời đến ghi âm, quay hình. Chị coi, thế cũng là hạnh phúc. Thoáng chút buồn khi nghĩ, công luyện tập thì vô vàn không kể hết, mà dịp để thể hiện thành quả khổ luyện của mình thì rất hạn hẹp, công chúng cho ca trù gần như không còn mấy…

Có người bạn thấy chị hát chầu văn hay, rủ chị đi hát hầu, tiền nhiều lắm em ạ, hát  ca trù có ai nghe đâu – bạn chị bảo. Nhưng chị nghĩ kỹ rồi. Tiền thì bao nhiêu cho đủ. Ông trời cho chị cái lộc làm kinh doanh, đủ nuôi sống gia đình, chắc là để chị toàn tâm toàn ý với cái nghiệp này rồi. Thế nên,chẳng có ngày nào mà chị ngưng hát, ngưng gõ phách…

Có thể bạn quan tâm