Trong lịch sử thế giới, vấn đề văn học trung tâm - ngoại biên thường xuất hiện ở hai phương diện: phương diện chuyên ngành và phương diện không gian văn hóa. Với phương diện chuyên ngành, trước đây đã xuất hiện vấn đề về sự phân biệt giữa văn học chính thức với văn học ngoại biên - được gọi là "cận văn học". Thí dụ, từ thời xa xưa người ta cho rằng chỉ có thơ ca mới được coi là văn học, còn văn xuôi chỉ là chuyện kể tầm phào, không được coi là văn học, quá lắm cho đến thời trung đại thì được coi là một thứ "cận văn học". Tới khi văn xuôi được cấp "giấy chứng minh văn học" thì trong văn xuôi cũng có thể loại mà lúc đầu vẫn bị coi là "cận văn học", như truyện phiêu lưu, truyện trinh thám, truyện khoa học giả tưởng,... Nhưng đến nay, các thể loại văn xuôi này cũng đã có quyền tồn tại bình đẳng trong thế giới văn học. Cũng còn có một số thể loại nằm ở ranh giới giữa các bộ môn, như giữa văn học với sử học, văn học với báo chí,... như các thể loại sử ký, ký sự, phóng sự... Các thể loại này vừa có thể được coi là văn học, lại vừa có thể được coi là sử học hay báo chí... Và, hiển nhiên chúng được xếp vào vị trí ngoại biên của văn học. Như vậy, trên bình diện chuyên ngành, xu hướng trung tâm hóa luôn là xu hướng chủ đạo của các loại hình, thể loại sáng tác, hay cũng có thể gọi đó là xu hướng hướng tâm. Các loại hình sáng tác luôn có xu hướng tiến tới để được công nhận là thành viên chính thức của một hình thái nghệ thuật. Ở đây, xu hướng ngoại biên hóa là điều khó có thể hình dung.
Còn trên bình diện văn minh thì sao? Trên thế giới, ở các giai đoạn lịch sử trước đây, các dân tộc đã có sự phát triển văn minh không đồng đều. Vì thế, trong những giai đoạn nhất định đều nổi lên một số trung tâm văn minh chi phối các nền văn minh chung quanh. Thời cổ đại, loài người có các trung tâm văn minh như Ai Cập ở châu Phi; Lưỡng Hà ở Trung Ðông; Hy Lạp và sau đó là La Mã ở châu Âu; Trung Nguyên ở Ðông Á;... Tới các giai đoạn sau, do sự phát triển nội tại và tác động của quá trình giao lưu, cho nên ảnh hưởng, sự chênh lệch về sự phát triển giữa các dân tộc bắt đầu được thu hẹp, các trung tâm có sự thay đổi từ khu vực này sang khu vực khác. Nếu như trước đó, các đế quốc có tầm cỡ thế giới như La Mã đã tồn tại 13 thế kỷ, thì từ thời Phục Hưng trở đi, những đế quốc có tầm cỡ thế giới - tức các trung tâm văn minh có ảnh hưởng lớn trên thế giới, chỉ tồn tại nhiều lắm là vài thế kỷ. Khi tồn tại các trung tâm văn minh như vậy, thì tình trạng phân biệt giữa trung tâm với ngoại biên là không thể tránh khỏi. Thời cổ - trung đại, người Trung Quốc thường coi các nước chung quanh là chư hầu, kém phát triển và hiển nhiên cũng coi văn minh của các nước đó là văn minh ngoại biên. Ðế quốc La Mã thì gọi các dân tộc đến từ phía đông là các tộc người dã man. Nước Anh và nước Pháp thời cận - hiện đại cũng coi các nước thuộc địa nói tiếng Anh và tiếng Pháp là các nước có nền văn minh ngoại biên của văn minh Anh, Pháp; ngay cả các nền văn hóa - văn học ở một số khu vực lãnh thổ nói tiếng Pháp nằm ngay giữa châu Âu, như khu vực nói tiếng Pháp ở nước Bỉ hay Thụy Sĩ, cũng đã từng chịu số phận như vậy.
Thế nhưng xu hướng phát triển văn hóa - văn học của các khu vực hay quốc gia hiện đại lại diễn ra không giống như ở phương diện chuyên ngành. Ở đây không có xu hướng hướng tâm mà là ly tâm; nói cách khác, các nền văn hóa - văn học của các nước đều phát triển theo xu hướng ly tâm để tiến tới độc lập dân tộc. Các nền văn hóa - văn học thuộc địa dần dần trở thành các nền văn hóa - văn học riêng biệt, mang bản sắc độc lập, không phải là một nhánh ngoại biên của văn hóa - văn học "mẫu quốc". Giờ đây, không ai có thể nói văn học của khu vực Thụy Sĩ nói tiếng Pháp hay văn học của khu vực Bỉ nói tiếng Pháp là những nhánh ngoại biên của văn học Pháp. Ðó cũng là đặc trưng chung của xu hướng phát triển độc lập về văn hóa đi kèm với phong trào độc lập dân tộc.
Như thế, xu hướng ly tâm trên đây không phải là xu hướng ngoại biên hóa. Các nền văn học thuộc địa phát triển theo hướng ly tâm là để tiến tới độc lập chứ không phải là phát triển theo hướng ngoại biên hóa để trở thành những nền văn hóa - văn học ngoài rìa! Vì thế, dù các khu vực ngoại biên ở đây phát triển theo xu hướng trái ngược với xu hướng hướng tâm của các thể loại "cận văn học", nhưng chúng đều giống với các thể loại đó ở mục đích vươn tới trở thành những nền văn hóa - văn học đích thực và độc lập, trở thành những trung tâm riêng biệt. Do đó cũng có thể nói: Ðây là xu hướng ly tâm để trung tâm hóa.
Ngày nay chúng ta lại đang đứng trước một xu hướng hoàn toàn mới: đó là xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra như một xu thế tất yếu. Quá trình toàn cầu hóa đang đe dọa sự tồn vong của các nền văn hóa dân tộc. Nhưng đồng thời trên thế giới cũng đang có những khu vực phát triển theo hướng "phân mảnh hóa" một thực thể thống nhất, đi đến chỗ phá vỡ những đơn vị vốn thống nhất, ổn định từ trước. Chính vì thế, thế giới cũng đang hành động theo xu hướng bảo tồn đa dạng văn hóa nhưng không chống lại toàn cầu hóa. Khẩu hiệu "thống nhất trong đa dạng" đang tỏ ra thích hợp hơn lúc nào hết với phép biện chứng duy vật trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập. Theo tinh thần đó, thế giới đang kêu gọi loài người cần hành động để đưa các khu vực ngoại biên hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa tiến bộ để cùng phát triển.
Báo cáo phát triển con người 2004 của Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) khẳng định: Sự đa dạng không hề mâu thuẫn hay chống lại sự thống nhất như nhiều người lo sợ. Sự đa dạng văn hóa và thống nhất không phải là một sự ganh đua một mất một còn. Không thể có chuyện được cái nọ thì phải mất cái kia. Không phải vì sự thống nhất mà ta chỉ công nhận một bản sắc duy nhất. Như thế thì thế giới sẽ không thể phát triển. Ða dạng và thống nhất không hề mâu thuẫn và không loại trừ nhau. Chúng gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, theo đúng tinh thần của phép biện chứng: Một là nhiều và nhiều là một. Vì thế, đa dạng văn hóa vẫn sẽ mãi mãi tồn tại trong sự thống nhất của văn hóa toàn cầu, giống như đa dạng sinh học trong sự thống nhất của thiên nhiên.
Hiện tại người ta đang chú ý đến đa dạng văn hóa với tư cách là kết quả của quyền được khác biệt của mọi người dân, của tự do văn hóa, song việc xích lại gần nhau của các "công dân thế giới" lại làm nảy sinh quan niệm về một cái quyền mới cũng không kém phần quan trọng so với quyền được khác biệt, thậm chí có khi còn quan trọng hơn: đó là quyền được giống nhau. Như nhà nghiên cứu người Mỹ Tyler Cowen đã nói, mặc dù con người có nhiều sự lựa chọn, nhưng họ lại có xu hướng lựa chọn những sự vật giống nhau.
Quay trở lại với vấn đề văn học trung tâm và ngoại biên. Chúng tôi cho rằng không nên đặt vấn đề về xu hướng trung tâm hóa hay ngoại biên hóa văn học dân tộc. Theo tinh thần của UNDP mà chúng tôi đã trình bày, đây không phải là xu hướng đáng khuyến khích. Sự đa dạng trong sáng tác luôn là điều đáng khích lệ, nhưng cách nói "ngoại biên hóa" thì không phải là diễn ngôn phù hợp với xu thế khoan dung trong toàn cầu hóa văn hóa ngày nay. Về mặt lý thuyết, vấn đề quan hệ giữa trung tâm và ngoại biên nếu được đặt ra thì cũng chỉ là để giải quyết những tình huống lịch sử của các giai đoạn cụ thể trong quá trình phát triển văn hóa - văn học của loài người. Vì thế, vấn đề này mang tính lịch sử nhiều hơn là tính lý thuyết.
Ở đây, ngay cả đối với khái niệm "đa dạng văn hóa" chúng tôi cũng xin nhắc lại một chân lý là: Mọi người, xét về bản chất giống loài của mình, vẫn mang nhiều tính chung cơ bản hơn là tính riêng. Xu hướng lựa chọn những cái giống nhau của mọi người vẫn là xu hướng tất nhiên và mang tính chủ đạo. Vì vậy, theo chúng tôi, trong mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại biên, thì vec-tơ chủ đạo vẫn là hướng vận động từ ngoại biên đến trung tâm; mặt khác: đó còn là sự vận động của ngoại biên để tiến tới trở thành các trung tâm mới, bổ sung cho một trung tâm gốc. Không nên tuyệt đối hóa cái đa dạng. Ða dạng chỉ là điều kiện để phát huy óc sáng tạo cá nhân, nhưng sự sáng tạo đó vẫn hướng tới cái chung, vẫn tạo điều kiện để những cái độc đáo riêng tác động với nhau để xây dựng một "tòa tháp Babel" tiến bộ chung của toàn thế giới. Không nên tuyệt đối hóa "cái tôi" độc sáng mà phải khuyến khích cả cái "nhân loại" tiến bộ và bao dung toàn cầu. Hãy tránh xa thứ "chủ nghĩa tự kỷ trung tâm" đã lỗi thời từ lâu để cùng nhau xây dựng một thế giới văn minh tiến bộ chung của toàn thể loài người. Với tinh thần đó, mối quan hệ giữa trung tâm với ngoại biên (nếu có) sẽ không phải là mối quan hệ đối đầu và phân bậc cao thấp, mà đó chỉ là sự biểu hiện của một mối quan hệ mang tính biện chứng hơn: đó là quan hệ giữa đa dạng và thống nhất. Trong quá trình nghiên cứu, chúng ta có thể kết hợp các lý thuyết để tiếp cận vấn đề một cách toàn diện, chứ không nên tuyệt đối hóa một lý thuyết nào.