Vấn đề cần tháo gỡ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Bạc Liêu

Mắc nợ như "chúa chổm" vì con tôm

Theo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bạc Liêu, tổng số vốn đầu tư lĩnh vực NTTS trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay là 3.600 tỷ đồng, trong đó dư nợ "khó đòi" lên đến hơn 5%. Ðây là vấn đề đáng báo động, làm "đau đầu" những người có trách nhiệm tại các ngân hàng thương mại của tỉnh. Trong tháng 5 và 6, Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) huyện Vĩnh Lợi đã làm một việc bất khả kháng là khởi kiện 29 khách hàng của mình ra tòa vì thiếu nợ. Xã Vĩnh Hậu, một xã có 100% diện tích NTTS, năm nay toàn xã có dư nợ lên đến hơn bảy  tỷ đồng, trong đó có hơn 5 tỷ đồng nợ đã đến hạn trả nhưng có điều kiện, buộc Ban xử lý nợ phải giải quyết theo hướng tạm thời kéo dài cho đến 12 tháng. Xã Hưng Thành, dư nợ lên đến 43 tỷ đồng, dư nợ quá hạn đến hơn 20 tỷ đồng. Tại huyện Giá Rai, tình trạng cũng tương tự, dư nợ quá hạn NTTS lên đến con số 48 tỷ đồng, chiếm 6% tổng dư nợ. Còn ông Lê Thành My, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng NN và PTNT huyện Ðông Hải cho biết: "Toàn huyện có 60% trường hợp, chúng tôi phải gia hạn, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn đã vượt gấp hai lần mức cho phép. Tôi biết trong số này có rất nhiều người không có khả năng thanh toán nợ".

Trong khi đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vụ mùa năm nay, toàn tỉnh Bạc Liêu có hơn 2.000 ha đất NTTS không đưa vào sản xuất, bỏ hoang. Ðiều đáng buồn là hầu hết diện tích này rơi vào diện tích nuôi theo mô hình công nghiệp, bán công nghiệp (CN-BCN). Ông Tệch, chủ một doanh nghiệp tư nhân tại thị xã Bạc Liêu, là người đầu tiên tại Bạc Liêu bỏ ra hơn hai tỷ đồng để đầu tư nuôi tôm công nghiệp tại xã Hiệp Thành vào năm 2000. Hai vụ đầu, ông thu về hai tỷ đồng, tạo ra "làn sóng" đua nhau mua đất nuôi tôm tại Bạc Liêu. Gặp chúng tôi vào cuối tháng 6, ông than thở: "Tôi thất bại liên tiếp hai năm nay; nay toàn bộ 60 ha đất bán chẳng ai mua, cho thuê chẳng ai mướn. Bây giờ đầu tư tiếp cũng chẳng dám". Tương tự như vậy, ông Lộ Hùng có hơn một ha tại ấp Biển Tây B, xã Vĩnh Trạch Ðông năm nay cũng đành bỏ hoang một nửa vì đã hết vốn đầu tư do lỗ đậm. Ông bảo: "Nuôi tôm bây giờ thua đau quá, sáu tháng mới đạt tiêu chuẩn 30 con/kg, với giá cả thế này nuôi giỏi lắm mới có lãi". Chính vì vậy, ông không dám đầu tư tiếp mà nuôi cầm chừng. Ông Trần Văn Hải, Phường 2, Thị xã Bạc Liêu năm 2004, thất bại toàn bộ 12 ao nuôi. Năm nay nuôi bốn ao, còn lại bỏ hoang không dám nuôi. Khu vực vào vườn chim ngày nào tấp nập người dân đến nuôi tôm, người ta nuôi tôm lấn cả đất vùng đệm, nay những ô đất bỏ hoang mặc cho cỏ mọc. Trưởng phòng NN và PTNT thị xã Bạc Liêu Nguyễn Trung Kiên cho biết, năm nay toàn thị xã có đến 1.252 ha đất nuôi trồng thủy sản theo mô hình CN-BCN bỏ trống, chưa thấy người dân dự định thả nuôi.

Không riêng gì mô hình CN-BCN người dân bỏ trống đất mà ngay cả nuôi theo mô hình quảng canh, cải tiến vụ mùa này người dân cũng không dám thả nuôi tôm sú. Theo thống kê chưa đầy đủ,  huyện Ðông Hải có hơn 100 ha như vậy, nằm tập trung tại xã Long Ðiền Ðông A.

Chuyển đổi ồ ạt và bài học về môi trường

Năm năm chuyển đổi đến gần 70 nghìn ha là con số rất lớn đối với một tỉnh có diện tích không lớn như Bạc Liêu. Nhưng điều đáng báo động là chuyển đổi trong điều kiện thiếu vốn, thiếu thủy lợi, thiếu kỹ thuật và cả kinh nghiệm sản xuất quả là điều không đơn giản. Người dân gấp rút chuyển đổi do thấy cái lợi trước mắt là lợi nhuận đem lại từ con tôm, bất chấp những khuyến cáo của các nhà khoa học. Phải thừa nhận rằng, trong vài năm vừa qua, mức tăng trưởng kinh tế của Bạc Liêu khá cao 18-20%/năm. Kết quả này là do việc chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý nữa là, những vạt rừng trồng năm, bảy năm tuổi dọc theo tuyến đê đã được UBND tỉnh cho chuyển đổi sang nuôi tôm vì một lý do rất giản đơn là diện tích này nằm trong đê, không thuộc diện tích lâm phần quản lý. Vì vậy, 240 ha diện tích được xem là tôm rừng thuộc huyện Vĩnh Lợi (rừng đước ở đây rất tốt) và hơn 4.000 ha đất tôm rừng của huyện Ðông Hải đã được chuyển sang chuyên tôm. Tỉnh Bạc Liêu quy hoạch bảo vệ đai rừng phòng hộ ngoài đê biển kết hợp khoanh nuôi rừng ngập mặn 400 ha. Song, hiện nay số diện tích này đã bị nước mặn nuôi tôm làm cho hàng trăm ha diện tích rừng bị chết. Vậy mà trong quy hoạch của tỉnh đến năm 2010 sẽ nâng lên đến 1.350 ha, hiện ngành chức năng không biết lấy đâu ra hơn 800 ha nữa để trồng rừng theo quy hoạch.

Theo quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 25/2003/QÐ-UB ngày 20-8-2003, đến năm 2010, diện tích NTTS của tỉnh Bạc Liêu 134.100 ha, trong đó diện tích nuôi theo mô hình CN-BCN 34.150 ha, tăng đến 23.150 ha so với năm 2003. Vậy là đến năm 2010 độ che phủ rừng của tỉnh Bạc Liêu sẽ không tăng so với hiện nay nếu không nói là sẽ giảm. Trong khi đó, tỉnh có đến 22 km chiều dài bờ biển với cả một sinh thái rừng ngập mặn nổi tiếng cả đồng bằng.

Tuy nhiên, đó chỉ là "ham muốn" của lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu đối với con tôm. Thực tế tại mùa vụ này hoàn toàn ngược lại. Số diện tích nuôi theo mô hình CN-BCN chỉ 8.600 ha, giảm so với năm 2004 và nhiều khả năng còn tiếp tục giảm. Phó giám đốc Sở Thủy sản Lê Minh Chiến cho biết: "Chúng tôi thừa nhận là có chủ quan trong việc xây dựng mô hình nuôi tôm CN-BCN. Ðáng ra phải căn cứ vào thực tế và hiệu quả của mô hình này đem lại".

Trong khi đó một số người dân không còn "mặn mà" với con tôm nữa. Huyện Giá Rai, Phước Long chính thức khuyến cáo người dân của mình không nên độc canh con tôm. Hai huyện này đã xây dựng các mô hình kết hợp từ năm 2004 và tỏ ra có hiệu quả. Tại vùng Nam quốc lộ 1A, cụ thể là huyện Ðông Hải có 34 nghìn ha chuyên tôm, người dân bắt đầu ngán ngại. Tại ấp Phước Ðiền, xã Long Ðiền Ðông A có đến 72 ha chuyển đổi từ đất trồng lúa sang độc canh con tôm, nay người dân ấp này đồng loạt đệ đơn xin cho phép chuyển sang trồng lúa. Ông Trần Văn Hiền, có hai ha đất trồng lúa hai vụ/năm trước đây không chịu chuyển đổi, chính quyền, nhân dân động viên mãi ông mới chịu chuyển sang nuôi tôm. Hai năm đầu có lãi, nhưng từ cuối năm 2003 đến nay chẳng thu được đồng bạc nào. Ông cho biết: "Con tôm nuôi hoài không chịu sống. Nông dân chúng tôi đã quen làm ruộng rồi, nay thả tôm xuống nước, ba tháng sau chưa thấy chắc ăn. Bây giờ nợ ngân hàng 150 triệu đồng nhưng tôm thì cứ chết hoài, không biết làm sao sống nổi. Trở lại làm lúa, nông dân chúng tôi sẽ dễ thở hơn". Tuy nhiên, đây là vùng  quy hoạch nuôi tôm, người dân đã nuôi và đang nuôi, vì vậy muốn trở lại trồng lúa không phải chuyện dễ. Trưởng Phòng Nông nghiệp - Thủy sản huyện Ðông Hải Nguyễn Tấn Khương cho biết: "Chúng tôi không thể chuyển lại trồng lúa theo nguyện vọng của người dân được vì đất đã nhiễm mặn rồi. Muốn chuyển từ hệ sinh thái mặn sang hệ sinh thái ngọt ít nhất cũng mất ba năm".

Chung quanh chuyện con tôm, tại những vuông tôm nuôi theo mô hình CN-BCN, người dân tự tiện khoan giếng nước để lấy nước ngọt pha vào vuông tôm đã làm cho hệ thống nước ngầm của Bạc Liêu tụt 7-10 m so với năm 1995. Ðất rừng bị tàn phá, nước ngầm khai thác vô tội vạ, khai thác đất quá mức đã làm cho môi trường ô nhiễm nặng, chính điều này tác động trực tiếp đến người nuôi tôm. Trước đây nuôi chỉ ba, bốn tháng đạt tiêu chuẩn 30 con/kg, nay phải mất sáu tháng. Ðó là một minh chứng cho việc người dân đối xử thô bạo với tài nguyên thiên nhiên.

Thật ra, người dân cũng đã làm nhiều cách để sản xuất, ông Tệch, ông Hải, ông Hùng đã nói ở trên cũng đã có thời gian chuyển sang nuôi cá phi đơn tính, nhưng tất cả đều lâm nợ do giá cá quá rẻ, tiêu thụ khó khăn. Trước đây, khi dự án ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp, có đến gần 10 nghìn ha đất bỏ trống do không sản xuất được. Nay chuyển dịch sản xuất, đã đáp ứng nhu cầu người dân, nhưng đất vẫn tiếp tục bỏ trống.

Làm thế nào mà trong vòng mười năm một tỉnh chuyển đổi từ hệ sinh thái, tập quán sản xuất này sang tập quán sản xuất khác đến hơn 50 nghìn ha ảnh hưởng trực tiếp đến gần hơn 50 nghìn hộ nông dân? Câu hỏi này đặt ra từ rất lâu, nhưng do chính quyền nhiều huyện trong tỉnh quá "mong muốn" nông dân làm giàu nhanh, nên đã chủ quan, nóng vội, bất chấp những quy luật tự nhiên! Một thực tế đáng quan tâm là: Việc chuyển dịch sản xuất một cách ồ ạt ở Bạc Liêu đang tiềm ẩn những nguy cơ đáng lo ngại, đó là tình trạng nhiều hộ dân nợ ngân hàng, sợ nuôi tôm, đời sống khó khăn... Những vấn đề nêu trên đang là những nguy cơ, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền và mỗi hộ nông dân trong tỉnh Bạc Liêu cần quan tâm và tìm các biện pháp giải quyết, để việc chuyển dịch sản xuất từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy  sản đem lại hiệu quả cao hơn, giảm đến mức thấp nhất những rủi ro và nguy cơ xấu có thể xảy ra.

TRỌNG DUY NHẬT HỒ

Có thể bạn quan tâm