Từ xuất khẩu phần mềm đến làm chủ AI: Cần thêm những người dám dấn thân

Từ một quốc gia từng chủ yếu tiếp nhận và ứng dụng công nghệ, Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ và làm chủ các công nghệ chiến lược. Trong định hướng đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghệ lõi, đề cao tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá.

Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ và làm chủ các công nghệ chiến lược, trong đó có AI. (Ảnh thiết kế có sự hỗ trợ của AI)
Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ và làm chủ các công nghệ chiến lược, trong đó có AI. (Ảnh thiết kế có sự hỗ trợ của AI)

Từ một lựa chọn mạo hiểm ba thập niên trước

Cuối thập niên 1990, ý tưởng người Việt làm phần mềm cho thị trường thế giới là một lựa chọn nhiều rủi ro. Ngành công nghệ trong nước còn non trẻ, doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm quốc tế, thương hiệu Việt Nam trong lĩnh vực phần mềm gần như chưa được biết đến. Những doanh nghiệp tiên phong phải tự tìm đường, từng bước tiếp cận khách hàng và chấp nhận những thử nghiệm không phải lúc nào cũng thành công.

Bước ngoặt đến khi nỗ lực của doanh nghiệp gặp được định hướng ở tầm quốc gia. Năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm; cùng năm, Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị tạo thêm động lực cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Phần mềm dần trở thành một lĩnh vực được quan tâm trong hoạch định chính sách, hoạt động doanh nghiệp và lựa chọn nghề nghiệp của người trẻ.

Xuất khẩu phần mềm từ đó không còn đơn thuần là cuộc thử sức của một số doanh nghiệp tiên phong. Khi ngày càng nhiều kỹ sư tham gia, doanh nghiệp tích lũy được kinh nghiệm và thị trường mở rộng, những nỗ lực riêng lẻ dần tạo thành năng lực của cả ngành.

Hơn 25 năm sau, bức tranh đã thay đổi đáng kể. Doanh thu từ thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tăng từ 7,5 tỷ USD năm 2023 lên mức ước tính 15 tỷ USD năm 2025. Năm 2023 cũng ghi dấu mốc một doanh nghiệp Việt Nam lần đầu đạt doanh thu dịch vụ công nghệ thông tin từ nước ngoài ở mức 1 tỷ USD.

Những kết quả ấy không chỉ phản ánh sự trưởng thành của doanh nghiệp, mà còn cho thấy vai trò của một lực lượng đủ lớn cùng tham gia. Một ngành công nghệ không thể hình thành chỉ bằng quyết tâm của một vài cá nhân. Những người tiên phong có thể mở đường, nhưng để tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững, cần thêm nhiều người tin rằng mình có thể tham gia, có cơ hội thử sức và có khả năng biến ý tưởng thành sản phẩm.

Bài học đó có ý nghĩa đối với hành trình phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) hiện nay. Việt Nam cần kế thừa tinh thần dấn thân của thế hệ đi trước, đồng thời xây dựng những năng lực mới để tiến từ ứng dụng, gia công đến thiết kế, phát triển và làm chủ công nghệ.

fpt-1.jpg
Năm 2023, FPT đã trở thành doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đầu tiên đạt doanh thu tỷ USD từ xuất khẩu phần mềm. (Ảnh: FPT)

Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển công nghệ chiến lược. Tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng việc chuẩn bị nguồn nhân lực hôm nay chính là chuẩn bị năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhiều lần nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là con đường có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển đất nước; đầu tư cho lĩnh vực này đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, sự kiên định và khả năng chấp nhận rủi ro. Với AI, bán dẫn và các công nghệ chiến lược khác, yêu cầu không chỉ là tiếp cận hay sử dụng thành thạo, mà phải từng bước xây dựng năng lực làm chủ, trên tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá.

Từ người dùng thành người kiến tạo

Trong số các công nghệ chiến lược, trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng ứng dụng rộng trong hầu hết lĩnh vực của đời sống và sản xuất, từ y tế, giáo dục, pháp lý đến nông nghiệp, công nghiệp và nghiên cứu khoa học. Đặc điểm này mở ra một hướng tiếp cận quan trọng: lực lượng tham gia phát triển AI không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng kỹ sư công nghệ hay chuyên gia nghiên cứu, mà còn qua những người đang nắm giữ bài toán, dữ liệu và tri thức chuyên ngành.

Một bác sĩ hiểu đặc điểm bệnh lý và quy trình khám, chữa bệnh; một luật sư nắm rõ những vướng mắc trong tra cứu, áp dụng pháp luật; một nhà khoa học có dữ liệu tích lũy qua nhiều năm; hay một kỹ sư am hiểu từng công đoạn của dây chuyền sản xuất đều có thể góp phần xác định những vấn đề mà AI cần giải quyết.

Dấn thân vào AI vì thế không nhất thiết đồng nghĩa với việc rời bỏ lĩnh vực chuyên môn để trở thành kỹ sư AI. Đó có thể là việc dùng chính kiến thức tích lũy nhiều năm trong nghề để đặt ra một bài toán mới cho công nghệ.

Trong nhiều trường hợp, hiểu đúng vấn đề cần giải quyết là điều kiện quan trọng không kém việc sở hữu công cụ hiện đại. Một mô hình AI có thể mạnh về kỹ thuật nhưng vẫn khó tạo ra giá trị nếu thiếu dữ liệu phù hợp, không hiểu quy trình nghiệp vụ hoặc không đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Ngược lại, một nhóm phát triển có kiến thức chuyên ngành sâu, biết kết hợp công nghệ với dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn, có thể tạo ra giải pháp hữu ích ngay cả khi không xây dựng mô hình nền tảng từ đầu.

Nếu mở rộng cách nhìn về người tham gia phát triển AI, nguồn lực của Việt Nam sẽ không chỉ nằm trong các doanh nghiệp công nghệ, trường đại học và viện nghiên cứu, mà còn là hàng triệu người đang là chuyên gia, người lao động và những người làm nghề trong nhiều lĩnh vực. Đây là nguồn tri thức có thể tạo nên sự khác biệt cho các sản phẩm phục vụ thị trường trong nước.

Kết quả khảo sát độc giả VnExpress được công bố trong giai đoạn từ ngày 28/9 đến 4/10 cho thấy, phần lớn người tham gia đã sử dụng AI, nhưng hơn một nửa chưa biết đến sản phẩm AI do người Việt phát triển. Khảo sát cũng ghi nhận mong muốn về những công cụ hiểu tiếng Việt, nắm được bối cảnh Việt Nam và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Những kết quả này gợi mở khoảng cách giữa khả năng tiếp cận AI và mức độ nhận biết, sử dụng các sản phẩm do người Việt phát triển. Đồng thời, khảo sát cho thấy dư địa để doanh nghiệp và đội ngũ sáng tạo trong nước tìm kiếm những hướng đi phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Việt Nam không nhất thiết phải bắt đầu bằng cuộc cạnh tranh trực diện với những tập đoàn lớn nhất thế giới trong việc xây dựng mô hình nền tảng. Những giải pháp hiểu sâu hệ thống pháp luật Việt Nam, hỗ trợ phân tích dữ liệu y tế trong nước hay tối ưu hóa quy trình sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể tạo ra giá trị thiết thực. Điều quan trọng là xác định đúng nhu cầu, bảo đảm chất lượng dữ liệu, kiểm soát rủi ro và đưa sản phẩm vào môi trường sử dụng thực tế.

Tuy nhiên, nhu cầu thị trường không tự động chuyển hóa thành năng lực công nghệ. Để một ý tưởng trở thành sản phẩm, người phát triển còn phải vượt qua nhiều rào cản về dữ liệu, hạ tầng tính toán, vốn, nhân lực, thử nghiệm, khả năng tiếp cận khách hàng và tuân thủ các yêu cầu pháp lý. Nếu thiếu môi trường hỗ trợ, những sáng kiến dù xuất phát từ nhu cầu thực tế vẫn có thể dừng lại ở quy mô thử nghiệm.

Tạo điều kiện để những người dám làm có thể đi xa

thu-truong-bo-ngoai-giao-le-anh-tuan.jpg
Thứ trưởng Ngoại giao Lê Anh Tuấn từng đánh giá đây là sáng kiến có ý nghĩa thiết thực, tạo không gian kết nối giữa nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế.

Xác định việc xây dựng hệ sinh thái AI tại Việt Nam là nhiệm vụ của người Việt, từ giữa năm 2025, Liên minh AI Âu Lạc được hình thành với sự tham gia của hơn 20 thành viên là doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và trường đại học. Liên minh khởi xướng Giải thưởng Âu Lạc Grand Prize trị giá 1 triệu USD, hướng tới tôn vinh các giải pháp AI do người Việt làm chủ, với sự bảo trợ của Tập đoàn FPT.

Giải thưởng tiếp nhận hồ sơ từ nhiều nhóm đối tượng, không giới hạn độ tuổi và ngành nghề, từ sinh viên, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học đến các công ty khởi nghiệp và doanh nghiệp. Cách tiếp cận này mở ra cơ hội để những ý tưởng xuất phát từ các lĩnh vực khác nhau được giới thiệu, đánh giá và kết nối với nguồn lực phát triển.

Tại lễ công bố giải thưởng, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Anh Tuấn đánh giá sáng kiến có ý nghĩa thiết thực trong việc cụ thể hóa các quyết sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo không gian kết nối giữa nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực AI.

Hành trình xuất khẩu phần mềm cho thấy ba điều kiện để một phong trào công nghệ thành công: một lời hiệu triệu đủ mạnh, một lực lượng thực thi đủ rộng và sự kiên trì.

Với AI, lời hiệu triệu đã rõ, từ Nghị quyết 57-NQ/TW đến những chỉ đạo nhất quán của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Phần còn lại là khả năng biến định hướng đó thành hành động: doanh nghiệp đầu tư, nhà khoa học nghiên cứu, kỹ sư phát triển sản phẩm và những người am hiểu từng lĩnh vực đặt ra những bài toán mà AI có thể giải quyết.

Hơn hai thập kỷ trước, ít ai chắc Việt Nam sẽ có một ngành xuất khẩu phần mềm phục vụ khách hàng toàn cầu. Điều đó chỉ thành hiện thực khi những nỗ lực riêng lẻ được duy trì đủ lâu và ngày càng có nhiều người cùng bước vào cuộc chơi, để từ năng lực của từng cá nhân hình thành năng lực của cả một ngành.

Với AI, con đường có thể còn khó hơn, khi cuộc chơi toàn cầu đang được dẫn dắt bởi những tập đoàn có nguồn lực khổng lồ. Nhưng Việt Nam đã có đông đảo người dùng AI. Bước tiếp theo là có thêm những người đi xa hơn: từ sử dụng công cụ đến đặt ra bài toán, từ tri thức chuyên môn đến dữ liệu và sản phẩm, từ thử nghiệm nhỏ đến giải pháp đi vào đời sống.

Khi ngày càng nhiều người coi AI là lĩnh vực mình có thể kiến tạo chứ không chỉ sử dụng, một lực lượng làm AI đủ lớn mới có thể hình thành. Câu hỏi hôm nay vì thế không còn là người Việt có dùng được AI hay không, mà là bao nhiêu người sẵn sàng dấn thân để tạo ra AI của chính mình.

Có thể bạn quan tâm