Không còn là một trò chơi tràn ngập niềm vui và dào dạt sức cống hiến, hành tinh bóng đá cũng đang thiếu vắng sức tỏa sáng của một "siêu sao" đích thực, và khoảng trống hun hút mà Di-đan (Zinedine Zidane) huyền thoại để lại vẫn chưa được lấp đầy.
Chơi tiến công và hướng tới các bàn thắng không những đã trở thành một nhiệm vụ khó khăn, mà còn là một thứ tư tưởng phù phiếm và mạo hiểm đối với mọi đội bóng. World Cup vẫn thường được gọi là "ngày hội lớn nhất của hành tinh bóng đá", nhưng bầu không khí lễ hội đích thực chỉ xuất hiện thường trực trên các khán đài, mà hiếm khi tràn được xuống mặt cỏ.
Trong guồng quay khốc liệt của danh vọng và trước sức cuốn hút không thể cưỡng lại của thành công, kết quả chung cuộc các trận đấu trở thành điều duy nhất có giá trị. Bản sắc của các đội bóng nhòa nhạt đi và lẫn lộn với nhau, khi đa số những kẻ chinh phục vào sân với sơ đồ biến hóa nhưng cũng đầy cẩn trọng 4-5-1 (và biến thể quen thuộc nhất là 4-2-3-1). Một hàng phòng ngự bốn người, hai tiền vệ đánh chặn và một tiền đạo duy nhất, đó là cách bài binh bố trận đã đưa ÐT Pháp lần đầu VÐTG 12 năm trước. Nhưng khi ấy, họ có Di-đan, người có thể xé nát mọi hàng phòng ngự và làm cả khán đài nhảy múa với những pha đi bóng ma thuật, những đường chuyền chính xác đến từng mi-li-mét, những phẩm chất của một người lĩnh xướng tiến công đích thực, một nhân vật truyền kỳ.
Không có Di-đan nào ở Nam Phi, và dường như một nhân vật có thể biến bóng đá thành một môn nghệ thuật như vậy cũng không thể xuất hiện ở đây. Trong thứ thời tiết trái mùa khắc nghiệt, trong thanh âm hỗn tạp và nhức đầu của tiếng kèn vuvuzela, đặc biệt là trong sự thống trị của tư tưởng phòng ngự thực dụng, cái đẹp trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Số thẻ phạt (245 thẻ vàng, 16 thẻ đỏ) nhiều gấp rưỡi số bàn thắng (145), thông số ấy cộng thêm số thẻ phạt kỷ lục của trận chung kết (12 thẻ vàng, 1 thẻ đỏ) cũng đã đủ để khắc họa diện mạo căng cứng của bóng đá, khi điều đầu tiên người ta hướng tới là việc không bị thất bại.
Chỉ có ba đội tuyển đủ dũng cảm để trung thành với ngọn cờ bóng đá tiến công trước mọi đối thủ, mà số mệnh lại bắt họ phải lần lượt loại nhau khỏi cuộc chơi. Sự hoa mỹ của ÐT Ác-hen-ti-na bị hất văng bởi sức trẻ Ðức, và sau đó "đàn đại bàng sông Ranh" sã cánh trước "Cơn cuồng phong đỏ" Tây Ban Nha, những người "không bao giờ cho phép đối thủ kiểm soát đủ bóng để tiến công", như lời HLV Lô-ép, ÐT Ðức.
Ðội bóng miền I-bê-ri-a tiến công, vì tiến công là cách phòng ngự tốt nhất. Họ trở thành nhà VÐTG mà chỉ ghi được tám bàn thắng, và cũng chỉ để thủng lưới hai bàn sau bảy trận đấu. Phía sau họ, những ứng cử viên khác liên tiếp gục ngã với những gương mặt xa lạ so với truyền thống. ÐT Bra-xin chưa bao giờ thể hiện được hết tiềm lực tiến công khủng khiếp của họ, kể cả khi đã bị đẩy tới chân tường bởi ÐT Hà Lan. "Cơn lốc mầu da cam" cũng đã thay hình đổi dạng, họ ghi tới 16 bàn thắng, nhưng lối chơi của họ là phòng ngự - phản công. ÐT Anh phải trả giá cho sự thụ động bằng trận thua tan nát trước các cầu thủ Ðức. Cựu VÐTG, ÐT I-ta-li-a, trong 10 phút vật vã cuối cùng ở vòng bảng, đã chứng minh rằng họ có khả năng tiến công mãnh liệt đến thế nào, nhưng chỉ như vậy thì không đủ bù đắp cho 260 phút vật vờ và run rẩy trước đó. Cựu á quân thế giới Pháp chính xác chỉ còn là một nỗi thất vọng ê chề, và niềm tin mà người hâm mộ Bồ Ðào Nha đặt vào C.Rô-nan-đô với tấm băng đội trưởng đã hoàn toàn sụp đổ.
Cầu thủ C.Rô-nan-đô không bao giờ có thể so sánh với bậc tiền bối cùng tên danh tiếng, Rô-nan-đô của Bra-xin, người dẫn đầu danh sách các cầu thủ ghi bàn trong lịch sử World Cup với 15 bàn thắng. C.Rô-nan-đô, cũng như Mét-xi, Ru-ni hay Ka-ka, suy kiệt và không còn đủ sức bật sau một mùa giải quá dài và quá mệt nhọc ở CLB. Nhưng hơn thế, họ không đủ mạnh mẽ về mặt tinh thần và sự đa dạng về mặt kỹ năng để vượt qua những mành lưới bủa vây của các hậu vệ đối phương. Bị nhận diện, bị phân tích, bị giải mã, bị chăm sóc kỹ lưỡng bởi các chuyên gia phòng ngự, không có dấu ấn đẳng cấp nào được đặt xuống bởi họ. Ðó là giới hạn và cũng là rào cản ngăn họ trở thành những huyền thoại đích thực, với khả năng vượt trước tầm thời đại, như Di-đan, Ma-ra-đô-na, Croai-phơ hay Pê-lê đã từng thực hiện.
Quả bóng vàng World Cup được trao cho Phoóc-lan. Anh là người thể hiện được nhiều nhất khát vọng chiến thắng và tầm vóc của một thủ lĩnh đích thực. Anh vừa là người kiến tạo, vừa là kẻ săn bàn. Nhưng anh không phải là đại diện của đội bóng chiến thắng, và những dấu ấn mà anh để lại cũng không khiến người ta ngây ngất bởi sự kỳ vĩ. Có thể, anh nhận danh hiệu ấy bởi chẳng còn ai xứng đáng, kể cả trong đám đông những người tham dự trận chung kết.
Đi-ê-gô Phoóc-lan.
Phoóc-lan là cầu thủ xuất sắc nhất World Cup, nhưng quá ít khả năng để anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất thế giới 2010, theo cách đánh giá của FIFA, hay Quả bóng vàng châu Âu, theo cách đánh giá của các phóng viên thể thao. Trong hai cuộc đua này, Xnai-đơ, bại tướng của anh, mới là người chiếm ưu thế... Là tiền vệ trụ cột của CLB In-tơ Mi-lan, đội bóng có tư tưởng thực dụng với cấu hình 4-5-1 chặt chẽ, nhiều thành công vẫn còn hứa hẹn trước bàn chân của Xnai-đơ.