Với tôi, ông Phạm Hai là người quen cũ bởi cách đây gần chục năm, ông đã được một lãnh đạo của huyện Phú Lộc thời ấy giới thiệu như một gương điển hình về trồng rừng và tiên phong trong làm ăn kinh tế của địa phương cần được giới thiệu để nhân rộng.
Nhưng đúng là chuyện đời không biết đâu mà lần. 10 năm sau gặp lại ông ở trụ sở UBND xã Lộc Sơn, tôi không còn nhận ra ông Phạm Hai điển hình với những việc làm táo bạo và giấc mơ tiền tỉ ngày nào bởi nhìn ông rũ rượi như một người sắp chết đuối vừa được vớt lên. Ông thở dài thườn thượt: “Tui sống mà như đã chết, chết từ mấy năm trước nhưng người ta không cho chôn...”.
Người đi đầu
Năm 1991, nhiều người dân và cả lãnh đạo ở huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế bấy giờ há hốc mồm khi thấy ông Phạm Hai, một người dân ở xã Lộc Sơn lập dự án xin cấp 45 ha đất hoang hoá ở khu vực Bến Ván của xã Xuân Lộc bên cạnh để trồng rừng.
Ngạc nhiên là bởi, dù khi “đất trống đồi trọc” ở huyện Phú Lộc dù còn mênh mông, nhưng thời điểm đó kinh tế rất khó khăn, bữa ăn hàng ngày của phần lớn người dân Huế còn chưa lo nổi thì việc xin cấp đất để bỏ tiền ra trồng rừng, rồi phải đợi đến 5 – 10 năm sau mới thu hoạch, là một chuyện gì đó xa xỉ, nếu không muốn nói là điên rồ.
Ngay cả chính quyền địa phương lúc đó cũng không tin lắm vào việc trồng rừng của ông Phạm Hai, nên dùng dằng mãi đến năm 1993, ông mới chính thức được huyện Phú Lộc ra quyết định cấp cho ông 45 ha đất ở khu vực Bến Ván, thuộc xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc để trồng rừng.
“Nhận được quyết định cấp đất, tui lập dự án trình Ngân hàng NN&PTNT huyện xin vay thế chấp 100 triệu để phát hoang, mua bạch đàn cao sản về trồng. Theo chu kỳ, bạch đàn cao sản phải trồng đến 7 năm mới được kha thác. Tuy nhiên, do mới trồng rừng lần đầu, chưa có kinh nghiệm nên đến được năm thứ 5 thì bạch đàn của tui đồng loạt lăn ra chết vì sâu bệnh” – ông kể.
Không cam chịu thất bại, ông Phạm Hai lại lập dự án, lại vay tiền về mua cây giống. Nhưng lần này ông không trồng bạch đàn cao sản như trước mà trồng cây keo tràm. Tuy nhiên mới trồng được 2 năm thì rừng của ông Phạm Hai lại “sinh chuyện”.
Số là thời điểm đó, tỉnh TT-Huế vừa xây dựng một nhà máy đường ở huyện Phong Điền nên UBND tỉnh yêu cầu tất cả diện tích đất gò đồi trên toàn tỉnh phải chuyển đổi qua trồng mía để lấy nguyên liệu cho nhà máy. Ông than: “Lúc đó tiếc đứt ruột vì rừng chỉ cần thêm một năm nữa là đến kỳ khai thác, nhưng trên lệnh nên không còn cách nào khác, tui phải nghiến răng chặt rừng để san lấp lại đất để trồng mía”.
Ông Hai trồng mía được khoảng một năm thì đột ngột, nhà máy đường...phá sản vì hoạt động không hiệu quả. Một lần nữa, ông Phạm Hai lại nuốt nướt mắt để chặt bỏ từng bụi mía. Đau đớn hơn, đến thời điểm đó, số tiền ông nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi sau hai lần trồng rừng và một lần trồng mía đã lên đến con số 300 triệu đồng. Một con số kinh hoàng đối với một người nông dân!
Nhưng ông không bỏ cuộc vì “lỡ phóng lao rồi nên phải đâm theo lao. Lúc này mà dừng lại thì chỉ có nước vào tù” – ông kể: “Tui lại lập dự án, thế chấp đất để vay thêm ngân hàng một trăm triệu nữa để một lần nữa trồng lại keo lai”.
Tiền mất, tật mang...
Thế nhưng, sự trớ trêu trong hành trình trồng rừng của ông Phạm Hai vẫn chưa dừng lại. “Khi rừng keo của tui vừa tròn 2 năm tuổi, lòng tui đang phơi phới với bao ước mơ, dự định...khi hình dung đến việc khai thác lứa keo đầu tiên trong một vài năm nữa thì đùng cái, UBND tỉnh TT-Huế triển khai dự án hồ Tả Trạch và một phần đất rừng của tui bị thu hồi để mở đường cho dự án tái định cư Bến Ván - dự án chuẩn bị cho việc di dân từ lòng hồ Tả Trạch về”.
Lần đó ông bị thu hồi hơn 3ha đất, và được đền bù cả đất cả cây khoảng 49 triệu đồng. Ông than: “Tuy chừng đó tiền chẳng thấm tháp vào đầu so với công sức và giá trị thực tế của đất và rừng bị mất, tuy nhiên tui vẫn chịu được. Tuy nhiên đến năm 2005 thì tui gần như đột tử khi nghe tin UBND tỉnh thu hồi toàn bộ diện tích rừng của tui để lấy đất cho dự án tái định cư Bến Ván”.
Đáng nói là tại biên bản làm việc tại trụ sở UBND xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc về việc “thông báo cho các hộ có đất tại khu tái định cư Bến Ván chưa giải phóng mặt bằng”, ngày 8.3.2005, ông Nguyễn Thanh Hà – Phó chủ tịch UBND huyện Phú Lộc đã hứa sẽ đền bù cho ông Phạm Hai bằng phương thức “đất đổi đất” theo chủ trương của tỉnh và hứa sẽ giải quyết trong năm 2005.
Thế nhưng từ đó đến nay đã gần tròn 4 năm, đất rừng của ông Phạm Hai đã trở thành một khu tái định cư nhà cửa san sát, rừng của ông đã bị người dân chặt bỏ để trồng lại rừng mới cũng sắp đến kỳ thu hoạch, vậy mà việc “đất đổi đất” của ông Phạm Hai vẫn chưa được thực hiện.
Ông kể trong nước mắt: “Mấy năm ni, tui cầm hồ sơ đi thắc mắc từ xã lên huyện, từ huyện lên tỉnh, từ tỉnh về huyện. Tui đã gặp gần như tất cả những người có liên quan từ ông Nguyễn Ngọc Thiện - Chủ tịch UBND tỉnh, bà Nguyễn Thị Thuý Hoà – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Nguyễn Thanh Hà – Phó chủ tịch UBND huyện; rồi không biết bao nhiêu lần gặp các đại biểu Quốc Hội về tiếp xúc cử tri; lần nào tui cũng được hứa là sẽ đề xuất, sẽ xem xét, sẽ sớm giải quyết thôi, nhưng lần nào tui cũng toàn chờ đợi trong vô vọng...”.
Tiếp tôi tại nhà riêng, bà Ngô Thị Vân - vợ ông Phạm Hai luôn trong tình trạng miệng cười, mắt mếu bởi: “Hiện gia cảnh của nhà tui rất khó khăn. Cả hai vợ chồng cùng 9 đứa con (đứa nhỏ nhất đang học mẫu giáo, 2 đứa nhất nhì đã có gia đình và đi bộ đội, còn lại đang đi học), nhưng nguồn thu của cả gia đình chủ yếu dựa vào mấy sào ruộng. Bi đát hơn, đến thời điểm này, nợ từ việc trồng rừng của vợ chồng tui ở ngân hàng cả gốc lẫn lãi đã lên đến hơn 600 triệu đồng. Tình hình ni mà kéo dài thì không sơm thì muộn, vợ chồng tui cũng sẽ vô tù vì không có khả năng trả nợ” – bà Vân rầu rĩ.
Vì sao?
Tôi đem những thắc mắc về trường hợp của ông Phạm Hai hỏi ông Nguyễn Thanh Hà – Phó chủ tịch UBND huyện Phú Lộc và đã trả lời: “Đúng ông Phạm Hai là một trong những hộ dân bị thu hồi đất rừng để xây dựng khu tái định cư Bến Ván. Nhưng ông Phạm Hai lại không thuộc trong diện đất đổi đất vì diện tích đất của ông sở hữu thuộc diện quá hạn điền ( theo quy định của UBND tỉnh TT-Huế, một hộ dân sở hữu trên 30 ha đất rừng là thuộc diện quá hạn điền, và trong trường hợp này, khi bị thu hồi đất sẽ không được đền bù – PV)”.
Về câu chuyện quá hạn điền, ông Phạm Hai giải thích: “Năm 1993, khi UBND huyện Phú Lộc giao đất cho tôi trồng rừng, vì khi đó phương tiện đo đạt còn thô sơ, cộng thêm việc... “áng chừng”, nên trong giấy tờ, diện tích đất rừng của tui ghi là 45ha, nhưng đất thực tế thì chỉ 32 ha. Đến năm 2000, khi UBND tỉnh thu hồi một phần đất rừng của tui để mở đường như đã nói, diện tích của tui còn lại thực chưa tới 30 ha, cho nên nói tui vượt quá hạn điền để không đền bù là không đúng”.
Trao đổi ý kiến với tôi, chính ông Nguyễn Thanh Hà cũng thừa nhận là “Tôi biết đất của ông Phạm Hai thực tế không đủ 30 ha, không những từ ông Phạm Hai mà còn từ dự luận và những người khác cùng có đất rừng gần ông Hai. Tuy nhiên khi làm việc, chúng tôi chỉ căn cứ trên giấy tờ cấp đất là 45ha”. “Nhưng thưa ông, tại sao huyện lại không tổ chức đo lại?” – tôi hỏi - Ông Nguyễn Thanh Hà trả lời: “Việc đó không thuộc trách nhiệm của huyện” (!?)
Trả lời câu hỏi cuối theo kiểu “vớt vát” của tôi rằng: “Thưa ông, chẳng lẽ địa phương không còn cách nào khác để tháo gỡ cho ông Phạm Hai thoát khỏi tình cảnh nợ nần như hiện tại?” Ông Hà nói: “ Tình cảnh tưng tự như ông Phạm Hai (nhưng dưới hạn điền) ở huyện Phú Lộc, hiện có đến 16 hộ với hơn 90 ha đất, tuy nhiên đến thời điểm này, chúng tôi vẫn chưa có đất để đổi cho họ thì nói chi đến trường hợp quá hạn điền như ông Phạm Hai”.
Ông tiếp: “Nói vậy chứ thời gian qua, chúng tôi cũng rất quan tâm đến trường hợp của ồng Phạm Hai và đã can thiệp với UBND xã Lộc Sơn giải quyết cho ông Hai nhận chăm sóc 4ha rừng thông để giải quyết khó khăn trước mắt”.
Câu trả lời đó chưa đủ để làm rõ vấn đề: rốt cuộc, ông Hải có phải là nạn nhân của những kẽ hở trong chính sách đất đai quá khứ của địa phương không ? Ai sẽ giúp ông vượt qua bằng cách nào với món nợ lớn, treo trên đầu vợ chồng già và sự phẩy tay của những người có trách nhiệm liên quan ?
| Ông Võ Công Nhơn - Chủ tịch UBND xã Lộc Sơn – nơi cư trú của ông Phạm Hai nói: “Trường hợp của ông Phạm Hai rất đáng thương, nhưng chúng tôi không thể giúp gì được vì việc trồng rừng của ông diễn ra ở địa phương khác. Thời gian qua, chúng tôi đã nhiều lần họp đề nghị đưa ông Hai vào diện hộ nghèo của xã, nhưng người dân họ không đồng ý với lý do: Ông Hai đang sở hữu cả mấy chục ha đất, vay ngân hàng cả mấy trăm triệu để làm ăn. Rồi trước đây, cả làng đi làm thuê (vỡ đất, trồng rừng, phát cây...) cho ông Hai...nên ông không thể nào là...hộ nghèo được (!) |