Xuất khẩu nhà hàng, làm đường, khai thác gỗ…
Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) là một trong những doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên bước chân vào thị trường Nhật Bản, với dự án liên doanh mở hai nhà hàng Việt Nam tại Tokyo và Yokohama. Năm 2001, nhà hàng Y Saigon ra đời ngay giữa thủ đô Tokyo với dàn đầu bếp Việt “chính cống” đưa từ Việt Nam sang, đã trở thành sự kiện được chú ý.
Điều đáng mừng, thực khách Nhật Bản tiếp cận ẩm thực Việt rất nhanh chóng. Họ mê nhất món chả giò (nem Việt Nam), và từ những nhà hàng này họ còn biết thêm về văn hóa Việt Nam, đồ mỹ nghệ Việt Nam, những chiếc nón lá Việt Nam và được xem những thước phim giới thiệu du lịch Việt Nam. Thật ra, đó mới là cái đích Saigontourist muốn nhắm đến. Thay vì phải mất khá nhiều tiền để mở một văn phòng và nuôi một bộ máy xúc tiến du lịch tại nước này hằng năm. Với giải pháp liên doanh mở nhà hàng, chỉ cần bỏ 100.000 USD vốn đầu tư ban đầu, tiền lãi thu từ hai nhà hàng Việt cho phép duy trì văn phòng đại diện trên nước bạn ba năm qua, vừa góp phần tích lũy cho quỹ kinh doanh hằng năm, và điều quan trọng nhất, thương hiệu Saigontourist đã đặt chân được vào thị trường Nhật Bản.
Năm ngoái, Saigontourist lại có thêm hai hợp đồng mới: Hai nhà hàng Nhật Bản Spice Road và Saigon Majestic tìm đến Saigontourist với các hợp đồng thuê đầu bếp. Không cần góp vốn, với mô hình này, Saigontourist vừa thu được tiền, vừa được đặt một bảng quảng cáo vi tính giới thiệu tour du lịch miễn phí ngay tại nhà hàng. Ông chủ nhà hàng Nam Việt trên đất Mỹ cũng tìm đến Saigontourist với ý định liên doanh sử dụng thương hiệu Majestic. Theo đó, nhà hàng Saigon Majestic Restaurant sẽ được xây dựng tại California, Mỹ với dàn đầu bếp từ khách sạn Majestic đưa sang. Mô hình “xuất khẩu” nhà hàng tiếp tục được phát huy, nhưng lần này là Saigon Royal Restaurant tại Frankfurt, Đức, với vốn đầu tư ban đầu 100.000 USD và đã khai trương từ cuối năm 2003.
Không chỉ xuất khẩu nhà hàng, đầu bếp, một công ty tư nhân đầu tiên đã nhảy vào thị trường Lào với dự án đầu tư gần một triệu USD, đó là Công ty TNHH Đầu tư, Xây dựng, Sản xuất thương mại quốc tế Trường Phú để “xuất khẩu” công nghệ làm đường. Năm 2002, Trường Phú thắng thầu đầu tư đường quốc lộ 15 tỉnh Saravane. Hai năm sau, Trường Phú được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp tiếp giấy phép thứ hai: Đầu tư sang Lào 992.466 triệu USD xây dựng nhà máy khai thác, chế biến gỗ xuất khẩu mang tên Thiên Phú tại Đặc khu Xaysombôn, công suất 10.000 m3 gỗ tròn/năm. Công ty này còn đang chuẩn bị dự án thứ ba trồng 20.000 m3 rừng nguyên liệu trên đất Lào và dự kiến xây dựng một nhà máy chế biến ván sàn, đóng bàn ghế ngoài trời xuất khẩu tại Nghệ An sử dụng nguồn gỗ nguyên liệu khai thác từ thị trường Lào, Myanmar.
Tự lực cánh sinh
Công ty Kinh doanh thủy hải sản TP Hồ Chí Minh (APT) đã làm đơn xin hỗ trợ 40.000 USD từ nguồn quỹ xúc tiến thương mại mở chi nhánh tại Đức, Nga, với cam kết nếu sau hai năm, mỗi chi nhánh không xuất khẩu được một triệu USD/năm sẽ trả lại vốn. Nhưng các đơn từ không có hồi âm! Thật ra từ năm 1994, APT đã có đại diện tại Mỹ, nhưng dưới tên một công ty liên doanh khác, ngay thương hiệu APT cũng không xuất hiện được trên các lô hàng xuất khẩu vào Mỹ. Đơn giản là vì phía đối tác muốn độc quyền thương hiệu. Nhưng nếu cứ chọn cách xuất khẩu qua trung gian, sẽ thất thế nhiều thứ. Đầu năm nay, APT đã mở được hai chi nhánh ở Nga và Đức, và những lô hàng thủy sản đầu tiên mang tên APT đã bắt đầu xuất hiện trên các siêu thị châu Âu.
Để làm được điều này, giám đốc APT cho rằng chẳng qua là do may mắn! Có nghĩa là APT không phải mất đồng vốn đầu tư nào vì gặp được đối tác là những công ty Việt kiều có mối quan hệ bạn bè thân thiết, đối tác Đức đã bỏ 23.000 USD và các chi phí khác để chi nhánh APT tồn tại hợp pháp trên đất Đức, đối tác Nga đầu tư kho lạnh hơn 60.000 USD và chạy vạy các thủ tục đặt văn phòng cho APT. Công ty APT chỉ lo rót hàng xuất bán theo đơn đặt hàng và đưa người sang quản lý thu chi. Lộ trình tiến quân vào Đức, Nga được APT hoạch định rất rõ ràng: Làm sao xuất khẩu ngay năm đầu tiên từ 500.000 USD đến một triệu USD cho mỗi thị trường. Chấp nhận không lãi trong hai năm đầu ( lấy lãi nuôi nhân viên APT tại văn phòng chi nhánh), sau đó phải nâng chỉ tiêu xuất khẩu lên hai triệu USD/năm để không còn phải lo bù lỗ nữa.
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam bước chân ra ngoài làm ăn đều phải tự lực cánh sinh và không phải đối tác nào cũng nhân nhượng hợp tác theo phương thức của APT ở Nga và Đức. Tuy có sự trợ giúp của Tập đoàn New Choice Food, nhưng dự án mở nhà máy kẹo ở Mỹ của Kinh Đô hai năm qua vẫn chưa xong. Saigontourist sau các dự án khá thành công ở Nhật Bản giờ đang lún chân ở Đức bởi sau sáu tháng làm ăn, đối tác đã thể hiện những ý đồ không hợp tác. Vì vậy Saigontourist đang thương thảo rút lại vốn.
Điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam đó là hạn chế về vốn, nhân sự, và cả kinh nghiệm làm ăn, am hiểu luật pháp nước sở tại. Vì vậy nhiều nơi lệ thuộc lớn vào phía đối tác, dẫn đến kinh doanh ở nước ngoài tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong khi đó, các tổ chức xúc tiến thương mại, ngoại giao đoàn cũng như nguồn quỹ dành cho xúc tiến chưa thật sự là chỗ dựa cho các doanh nghiệp. Con số 121 dự án triển khai ra nước ngoài làm ăn không còn là con số nhỏ, nhưng một chương trình hỗ trợ cụ thể cho bước tiến này bao giờ mới triển khai?