Những nhân tố ảnh hưởng đến tăng chỉ số CPI của Việt Nam 2010
Ảnh hưởng trực tiếp của tăng tiêu dùng nhân dịp tết Nguyên đán
Có thể thấy, nguyên nhân hàng đầu có tính truyền thống, trực tiếp và dễ nhận thấy trong việc tạo áp lực gia tăng đột ngột chỉ số CPI chung của cả nước, nhất là ở các đô thị tập trung dân cư và có quy mô thị trường tiêu thụ lớn, như các TP. Hà Nội và Hồ CHí Minh, chính là sự gia tăng đột ngột vượt trội mọi thời điểm khác trong năm về nhu cầu và sức tiêu thụ các hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng gắn với dịp tết cổ truyền dân tộc.
Số liệu của cơ quan Thống kê TW và địa phương cho thấy, so với tháng trước đó, CPI trong tháng 2/2010 trên địa bàn Hà Nội đã tăng gấp đôi mức tăng trong tháng 1/2010; ngoại trừ bưu chính viễn thông, giá tất cả các nhóm hàng tính chỉ số đều tăng, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thiết bị và đồ dùng gia đình… đều có mức tăng rất mạnh, từ 2,28% - 4,24%. Tính chung hai tháng đầu năm, CPI Hà Nội đã tăng 3,91%; tăng 9,69% so với cùng kỳ năm 2009.
Tại địa bàn Tp.HCM, tốc độ tăng CPI trong tháng 2/2010 cũng lên mức cao nhất trong vòng 17 tháng qua, đưa mức tăng chung 2 tháng đầu năm lên 2,97%, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm 2009. Cũng như tại Hà Nội, tại Tp.HCM chỉ riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm giá 1,3%, còn tất cả các nhóm hàng khác trong rổ hàng tính chỉ số đều tăng rõ rệt, trong đó giá nhóm hàng văn hóa, giải trí và dịch vụ tăng mạnh nhất với 3%. So với tháng 12/2009, chỉ số giá nhóm dịch vụ giải trí-du lịch đã nhích lên 4,11% (mức cao nhất trong hơn một năm qua), nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng thêm 2,66% so với tháng 1/2010, trong đó, lương thực tăng tới 4,87%, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng 1,56% - 2,67%, còn nếu so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng này đã lên lần lượt 23,38%, 8% và 9,08%. Các mặt hàng thiết yếu như: thịt gia súc, gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả, hải sản, gạo, nếp, bột mì, bia nước ngọt, bánh mứt... có tốc độ tăng giá cao thêm 1% - 4%.
Đây cũng là những nhóm hàng trọng tâm của mùa tiêu dùng trong và ngay sau dịp Tết Nguyên đán hàng năm và thông thường chúng sẽ có xu hướng hạ nhiệt dần sau Tết.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mức độ tăng giá của 2 tháng đầu năm 2010 cao hơn 2 lần mức tăng 2 tháng đầu năm 2009, cụ thể bình quân mỗi tháng trong 2 tháng đầu năm 2010, CPI tăng xấp xỉ 1,46%, trong khi năm 2009 chỉ có 0,67%. T
Trong tháng 2-2010, trong khi hàng loạt nhu yếu phẩm tăng, thì vàng và đô la Mỹ tiếp tục hạ nhiệt. Chỉ số giá vàng và USD tháng 2/2010 hạ lần lượt 1,94% và 0,28%, như minh chứng cho những tác động tích cực bước đầu của điều chỉnh chính sách tiền tệ.
Sự gia tăng giá cả và chi phí của các nhân tố “đầu vào”
Trong các tháng tới, giá một số mặt hàng chủ chốt tăng lên (như xăng đã tăng thêm từ 550 – 590đ/lít ngày 21/2/2010), và dự kiến tăng như than, điện… có thể sẽ tác động mạnh tới CPI năm 2010 của Việt Nam.
Mặc dầu, như Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp báo của Văn phòng Chính phủ chiều 22/2/2010, khẳng định Chính phủ đã tính toán kỹ để việc tăng giá điện dự kiến từ 1/3/2010 là mức tăng không cao, không ảnh hưởng đến mặt bằng chung của giá cả hiện nay, đặc biệt, không ảnh hưởng đến người nghèo…Cụ thể, với mức tăng giá điện khoảng 4,9%, thì tổng chi phí tiền điện tăng thêm của toàn xã hội sẽ khoảng 4.000 tỉ đồng, sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP ước khoảng 0,2% và làm tăng chỉ số CPI cả nước khoảng 0,16%...
Có thể nói, sự cộng hưởng tác động đồng thời của việc tăng giá xăng, chuẩn bị tăng giá điện, than, nước và giá cước vận tải các loại…, khiến giá hàng hoá và dịch vụ có liên quan trực tiếp và gián tiếp đang đứng trước khả năng tăng, bởi lý do phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố tăng giá “đầu vào” nêu trên.
Sự bộc lộ hệ quả của điều chỉnh chính sách tiền tệ - tài chính
Năm 2009, Việt Nam đã tăng trưởng tín dụng 38% để đạt được mức tăng trưởng GDP 5,3%, tổng phương tiện thanh toán vượt mức tăng 25% trong so sánh cuối năm và đầu năm. Chênh lệch giữa tổng phương tiện M2 và tăng trưởng GDP thực tế cho thấy lượng hàng hoá sản xuất ra chưa tương xứng với lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông. Năm 2010, Việt Nam cũng sẽ tiếp tục ở mức độ nào đó chính sách nới lỏng tín dụng này để duy trì mức tăng trưởng kinh tế không dưới 6,5% theo kế hoạch đặt ra như một điều kiện đảm bảo ổn định xã hội trong thời điểm chuẩn bị Đại hội Đảng (theo tỷ lệ đầu tư của năm 2009, tăng trưởng tín dụng năm 2010 sẽ phải là 44%). Như vậy, tác động trễ thông thường từ 4-6 tháng của mức tăng tín dụng cao (gấp 7 lần mức tăng GDP) trong năm 2009 sẽ bộc lộ dần trong những tháng từ đầu quý II/2010, tức sẽ trực tiếp tạo áp lực gia tăng lượng phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế như là nguyên nhân hàng đầu của lạm phát tiền tệ mà Việt Nam đã chứng kiến trong năm 2007…
Đồng thời, do hiệu quả đầu tư xã hội thấp, chỉ số ICOR cao (hiện ở Việt Nam không dưới 7-8 so với Trung Quốc trên 10) và chưa có dấu hiệu cải thiện đã, đang và sẽ tiếp tục tạo sức ép nới lỏng điều kiện tín dụng thương mại của các ngân hàng này, do đó làm tăng nguy cơ bùng nổ lượng tiền vào lưu thông với tư cách là các luồng vốn kích cầu đầu tư, từ đó trực tiếp làm tăng áp lực lạm phát. Một động thái chính sách ngược lại sẽ làm giảm bớt động lực tăng trưởng và nguy cơ mất ổn định vĩ mô kinh tế theo mục tiêu kế hoạch đặt ra.
Hơn nữa, việc bảo đảm khả năng trả nợ đúng hạn và sự lành mạnh của các khoản nợ tín dụng đã cấp cũng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến động thái lạm phát của Việt Nam năm 2010. Nếu những khoản nợ lớn bị dây dưa sẽ tạo nguy cơ mất khả năng thanh khoản của các ngân hàng chủ nợ, đồng thời tạo áp lực tăng cho vay tái cấp vốn –phát hành tiền vào lưu thông của NHNN cho các ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, năm 2010 cũng dự kiến sẽ tăng lương và tăng xu hướng chính sách tài chính –tiền tệ thắt chặt, như tăng lãi suất cho vay, bãi bỏ các khoản miễn giảm nghĩa vụ tàì chính cho doanh nghiệp, tăng thu thuế ( dự kiến thuế tài nguyên), những điều này sẽ ít nhiều làm tăng chi phí sản xuất “đầu vào”-do đó tăng giá đầu ra các hàng hoá và dịch vụ cung ứng từ nguồn trong nước.
Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND tăng thêm 603 đồng kể từ ngày 11/2/2010, tăng thêm 3,3% so với tỉ giá ngày trước đó. Tăng tỉ giá ngoại tệ, trước hết đối với USD, như một động thái cần thiết, khó tránh khỏi trong điều chỉnh chính sách tiền tệ năm 2010 nhằm làm giảm áp lực tiêu cực của chênh lệch tỷ giá giữa đồng VNĐ với đồng USD và các đồng ngoại tệ khác trên thị trường chính thức và thị trường tự do, cũng như để phù hợp cơ chế quản lý tỷ giá chung trên thế giới và xu hướng giảm giá các đồng tiền này trong thời gian qua.
Về tổng quát và lâu dài, việc điều chỉnh tỷ giá này có tác dụng tốt nhằm hạn chế, giải toả tình trạng găm giữ, cũng như kỳ vọng đầu cơ, góp phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cung-cầu về ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước, từ đó góp phần kiềm chế vững chắc lạm phát. Tuy nhiên, trong thời gian đầu và mức độ cục bộ, sự điều chỉnh tỷ giá này có thể ít nhiều làm tăng giá của hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu, do đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, cũng như làm giảm lượng hàng nhập khẩu, từ đó có thể làm gia tăng áp lực lạm phát cung-cầu và chi phí đẩy.
Sự hồi phục nền kinh tế và các nhân tố khác
Mặc dầu kinh tế thế giới 2010 còn tiềm ẩn nhiều bất ổn trên thị trường hàng hoá và tài chính-tiền tệ, trong đó có biến động tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chủ chốt và khủng hoảng nợ do thâm hụt ngân sách của nhiều nước như là hệ quả các gói kích thích kinh tế trong năm 2009, nhưng nhiều khả năng cho thấy sự phục hồi từng bước nền kinh tế và gia tăng các hoạt động tiêu thụ hàng hoá, nguyên liệu cả trên thị trường trong nước và thế giới (khi kinh tế thế giới phục hồi, giá dầu sẽ tăng cao, kéo theo giá xăng, phân bón, thuốc trừ sâu và các nguyên liệu sắt, thép, xi măng tăng…), nhất là từ nửa cuối năm 2010, sẽ ít nhiều và trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc trung hạn làm đảo chiều các cân đối hiện nay, tạo áp lực tăng giá các hàng hoá và dịch vụ, đưa mặt bằng giá xã hội lên mức mới, làm tăng đồng thời các loại lạm phát chi phí đẩy và lạm phát ngoại nhập như mặt trái và hệ quả đi kèm tất yếu của tăng trưởng và toàn cầu hoá.
Ngoài ra, mức độ gia tăng và tác động của lạm phát đến đời sống kinh tế-xã hội còn tuỳ thuộc khá nhạy cảm vào hệ quả và khả năng phối hợp đồng bộ, linh hoạt các chính sách và những yếu tố tâm lý xã hôi khác của Việt Nam, trong đó có công tác dự báo, thông tin và yếu tố tin đồn…
Tuy nhiên, điều may mắn là trong bất luận trường hợp nào thì lạm phát cao ngày nay cũng đã khác xa kiểu lạm phát mà Việt Nam đã đối diện trong những năm đầu đổi mới-thời kỳ mà nạn khan hiếm hàng hoá do năng lực sản xuất trong nước yếu kém, tình trạng phong toả, cát cứ kinh tế và những bất cập về thể chế khác đã gây những thiệt hại và ám ảnh nặng nề cho mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Các trọng tâm chính sách nhằm kiềm chế lạm phát năm 2010
| Đánh giá về khả năng tăng trưởng nền kinh tế cũng như tốc độ lạm phát của của Việt Nam, Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (HSBC) cho rằng, áp lực lạm phát sẽ trở thành vấn đề ngày một lớn khi giá dầu và thực phẩm tăng cao. HSBC dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2010 sẽ đạt 6,8%; lạm phát 8% và lãi suất cơ bản sẽ là 12%. Còn theo Ngân hàng Standard Chartered, tỉ lệ lạm phát của Việt Nam sẽ ở mức một con số, đứng ở mức trung bình 8,9% trong năm 2010 và lên mức 10% ở thời điểm cuối năm 2010. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì đưa ra mức dự báo lạm phát ở Việt Nam năm 2010 là 8,5%, thậm chí có thể trở lại 2 con số, do nguồn cung tiền tăng nhanh năm 2009 và giá hàng hoá cơ bản của thế giới dự báo sẽ tăng lên trong năm 2010. Theo cảnh báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam cần giám sát chặt chẽ tình hình lạm phát, đặc biệt khi giá hàng hoá tiếp tục ở mức cao trong năm 2010. Tuy nhiên, theo "Dự báo khu vực tài chính Việt Nam đến năm 2013" của Công ty nghiên cứu thị trường RNCOS của Mỹ vừa công bố trên mạng M2 PressWIREi, thì Việt Nam đã trở thành địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư tài chính quốc tế, và còn nhiều lĩnh vực có tiềm năng to lớn để phát triển với dự báo vốn ngân hàng sẽ tăng 22%/năm trong thời gian 2009-2013… |
Có thể thấy, năm 2010, mục tiêu kiềm chế lạm phát trong dưới 7% của Việt Nam như kế hoạch đặt ra là khó khăn, Việt Nam tiếp tục chịu đựng nhiều sức ép đa chiều, cả cũ và mới, về kích cầu đầu tư và tiêu dùng trung và dài hạn, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi và cơ cấu lại nền kinh tế thích ứng với các yêu cầu tự do hoá và cạnh tranh bình đẳng thị trường, bảo đảm tính kịp thời và linh hoạt trong phản ứng chính sách trước các biến động mau lẹ, bất lường của bối cảnh trong nước và quốc tế, tăng yêu cầu hỗ trợ và giám sát vĩ mô nghiêm ngặt từ phía nhà nước, đảm bảo ổn định hoá môi trường đầu tư-kinh doanh và sự cân bằng giữa các lợi ích và mục tiêu chính sách…
Chính phủ hiện đã có chỉ đạo thực hiện đồng bộ 6 nhiệm vụ chủ yếu và 5 nhóm giải pháp lớn để khôi phục phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát cao. Các bộ, ngành đã và đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất điều hòa cung cầu, tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu, kiểm tra kiểm soát thị trường... ngay từ những ngày đầu của năm mới”. Thực tế cho thấy, trong năm 2010, để kiềm chế tốt lạm phát, ổn định và nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, Việt Nam cần chú ý hơn đến các trọng tâm chính sách sau:
Thứ nhất, cần đảm bảo yêu cầu cạnh tranh kinh tế thị trường có quản lý Nhà nước về giá cả.
Cần thúc đẩy thiết lập và hoàn thiện cơ chế thị trường cạnh tranh đầy đủ có sự kiểm soát một cách hiệu quả đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực chưa tự do hóa. Cần thực sự cho cạnh tranh thị trường đầy đủ trong việc cung cấp và định giá hàng hoá và dịch vụ theo thị trường. Nói cách khác, phải cho cạnh tranh đầy đủ trên thị trường rồi nhà nước mới buông giá, để bàn tay vô hình của thị trường làm đúng chức năng của mình. Nếu chỉ trả giá cả về cho thị trường, mà không trả sự cạnh tranh cần thiết về cho thị trường trong việc hình thành giá cả, là dễ tạo ra sự lạm dụng và mang lại lợi ích độc quyền kép cho các doanh nghiệp đang hoặc gần như độc quyền kinh doanh các mặt hàng này.
Trước mắt, cần cân nhắc hợp lý hơn thời điểm và mức tăng giá các mặt hàng điện, than…đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả trên thực tế của chính phủ trong công tác giám sát, kiểm soát và xử lý sự độc quyền và các vi phạm về giá từ phía các doanh nghiệp và các bên có liên quan.
Thực tế cho thấy, cần tăng cường công tác kiểm toán giá và các chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp độc quyền hoặc gần như độc quyền để giảm thiểu các chi phí không hợp lý, làm giảm giá thành đầu ra của các sản phẩm cuả chúng, từ đó giúp giảm giá đầu vào của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, góp phần hạ mức giá chung và nâng cao sự lành mạnh của thị trường và sự bình đẳng của xã hội, ngăn chặn hiện tượng lạm dụng trục lợi cá nhân, thậm chí biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, phường hội và phe nhóm…
Thứ hai, linh hoạt và phối hợp đồng bộ các công cụ và hoạt động quản lý, giữa yêu cầu thắt chặt với nới lỏng tài chính-tiền tệ, đảm bảo an toàn và hiệu quả vốn đầu tư
Trước hết, cần đảm bảo an toàn, hiệu quả kinh doanh của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật về cho vay, đảm bảo tỷ lệ an toàn kinh doanh, quản lý ngoại hối;
Kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng và chuyển dịch mạnh cơ cấu tín dụng theo ngành, lĩnh vực, địa bàn thành thị và nông thôn, kỳ hạn và khách hàng vay, đáp ứng vốn cho các nhu cầu vay để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, trong đó tập trung các nguồn vốn cho vay sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, thu mua nông sản, chế biến và xuất khẩu, cân bằng hơn giữa cho vay đầu tư xuất khẩu với cho vay phát triển thị trường trong nước; hạn chế cho vay các nhu cầu vốn thuộc các lĩnh vực phi sản xuất;
Đồng thời, thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xử lý lãi suất tiền vay và tiếp tục cho vay mới đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất bị thiệt hai do thiên tai, bão lụt…để khách hàng vay có điều kiện sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật về cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, thúc đẩy sự phát triển dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của ngành và đơn vị mình theo nguyên tắc thị trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng cả thị trường trong nước và nước ngoài.
Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện và tăng cường việc kiểm tra, giám sát, thanh tra thực hiện các quy định về cho vay và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh về hoạt động tín dụng. Cần có sự phối hợp liên ngành chủ động, ăn khớp và thường xuyên, cũng như cần có sự đồng bộ, nhất quán hơn giữa việc ban hành, triển khai, giám sát, kiểm tra và chế tài hiệu quả các vi phạm chính sách trên thực tế, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt trong việc sử dụng các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, dự trữ ngoại hối và chính sách thuế, chính sách nợ chính phủ. Chính phủ cần có nhiều chế tài đối với các vi phạm về giá đủ sức răn đe. Tăng cường quản lý nợ công, coi trọng hiệu quả vay và sử dụng các khoản nợ. Đẩy mạnh chống tham nhũng và lãng phí trong chi tiêu công.
Cần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh nhạy cảm của năm 2010, việc ngăn chặn các tin đồn liên quan đến chính sách tỷ giá và thị trường tài chính-tiền tệ ở Việt Nam sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Chính sách tỷ giá trong thời gian tới cần linh hoạt theo hướng thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, giảm thiểu các lợi ích cơ hội hoặc cục bộ nào đó, phù hợp với các xu hướng tỷ giá chung của các đồng tiền chủ chốt trên thế giới. giảm bớt kỳ vọng thoả mãn cùng lúc nhiều mục tiêu cho chính sách tỷ giá trong cùng một thời điểm, nhưng cũng không thể kéo dài mãi một chính sách tỷ giá chỉ phục vụ cho một mục tiêu nhất định, dù là quan trọng trong bối cảnh nào đó, bất chấp những điều kiện khách quan đã thay đổi; bảo đảm phải có sự đồng bộ giữa tỷ giá với lãi suất vả cả biên độ tỷ giá, cũng như với các chính sách tài chính khác (theo nghĩa rộng) tránh sự triệt tiêu lấn nhau giữa các công cụ chính sách này, đảm bảo tính minh bạch và có thể dự báo được của chính sách tỷ giá.
Tiếp tục tập trung cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, gắn với công tác kiểm tra giám sát, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh; Kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn, nhất là nợ xấu, đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ; Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng công tác tham mưu về chính sách phát triển kinh tế, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, điều tiết thị trường và thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, cũng như nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả đầu tư nhà nước; Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả của hệ thống cơ chế, chính sách, đặc biệt là sự nhất quán giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ quốc gia.
Thứ ba, tăng cường công tác thông tin, dự báo và phản biện chính sách xã hội trước các biến động nhanh chóng của thị trường
Cần coi trọng đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu chính sách và ý chí chủ quan. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần coi trọng dự báo tác động hai mặt của chính sách theo yêu cầu quản lý kinh tế thị trường, bảo đảm việc tính đúng, tính đủ và công khai các tác động 2 mặt, nhất là mặt trái và các hệ lụy dây chuyền khôn lường của những chính sách đang và sẽ triển khai.
Ngoài ra, cần coi trọng việc xây dựng hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ cho các hoạt động dự báo, kinh doanh và điều hành kinh tế các cấp; khắc phục tình trạng các thông tin kinh tế thường bị phân tán, chia cắt, rời rạc, đóng băng và thiếu chuẩn hoá thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý, nhất là không được phổ biến rộng rãi, công khai , gây khó khăn và đắt đỏ cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu tiếp cận, khai thác và sử dụng các thông tin này, cũng như tạo ra những cơ hội thu lợi bất chính cho các tổ chức và cá nhân quản lý các thông tin đó, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và gia tăng sự lãnh phí các nguồn lực xã hội.
Cần nhấn mạnh rằng, việc làm tốt công tác xây dựng chuỗi số liệu cần thiết trong các chỉ tiêu thống kê quốc gia và chuyên ngành hàng năm tự nó cũng có giá trị dự báo và cảnh báo rất cao trong quản lý kinh tế nhà nước các cấp. Hơn nữa, cần đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự phối hợp ăn khớp cần có giữa các cơ quan chức năng và các loại công cụ dự báo, giữa công tác dự báo với công tác tổ chức thực hiện.
Dự báo tốt giúp các cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả điều hành thực tiễn. Còn việc bám sát thực tiễn điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp công tác dự báo thêm cơ sở tin cậy và mềm dẻo, chính xac hơn. Tăng cường sự phối hợp các hoạt động và cơ quan dự báo với giám sát, bao gồm cả giám sát chuyên ngành với giám sát hợp nhất, tổng thể toàn thị trường để cảnh báo sớm rủi ro và xử lý một cách hiệu quả những vấn đề mới phát sinh, nhất là các rủi ro chéo, tránh các đổ vỡ dây chuyền và bất ngờ;
Đồng thời, có chính sách về thông tin thị trường và quản lý nhà nước minh bạch đầy đủ, cập nhật và thuận lợi hơn, bám sát các nguyên tắc thị trường, các cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế. Những cải cách hành chính mạnh mẽ về thể chế và thủ tục, cũng như nhân sự trong bộ máy công quyền cũng cần được thúc đẩy hơn nữa theo hướng từ trên xuống.
Đặc biệt, cần quan tâm giải quyết tốt nhu cầu về xây dựng, củng cố và phổ biến rộng rãi nhận thức về các giá trị xã hội chuẩn chung, phát huy mọi nguồn lực, nhất là trí thức, người tài và tinh thần thượng tôn pháp luật nhằm tạo sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, kể cả với Việt Kiều, tạo thước đo tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, cũng như nhu cầu về xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ, phát huy hiệu quả các nguồn lực và sức mạnh của quốc gia, của các địa phương và doanh nghiệp trong nước và quốc tế cho phát triển bền vững.
TS.Nguyễn Minh Phong
Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội