5 giờ chiều ngày 28-4-1975 có một biên đội A37 của Mỹ đã ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất làm hiệu lệnh tấn công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam. Ðó là Biên đội quyết thắng do các phi công Quân đội nhân dân Việt Nam lái, bí mật, bất ngờ tấn công khiến Mỹ - ngụy trở tay không kịp. 12 giờ đêm hôm đó Ðại sứ Mỹ phải ra lệnh rút tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Bắt đầu một cuộc di tản hỗn loạn của người Mỹ và đám tay sai... Ðại tá Từ Ðễ - nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu, kể:
Sau khi Ðà Nẵng giải phóng, quân ngụy có nguy cơ tan rã. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực. Chúng hợp thành ba sư đoàn không quân trực tiếp chi viện cho ngụy quân ở khu vực Sài Gòn: Sư đoàn 4 ở Cần Thơ, Sư đoàn 3 ở Biên Hòa cùng lực lượng hỗn hợp được dồn về sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày 8-4-1975 Dinh Ðộc Lập bị phi công Nguyễn Thành Trung ném bom, khiến quân địch vô cùng hoảng sợ.
Ngày 19-4 Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân nhận lệnh: Chuẩn bị lực lượng tham gia chiến dịch và quyết định chọn những phi công giàu kinh nghiệm chiến đấu cùng các thợ máy giỏi đáp máy bay IL-18 vào Ðà Nẵng để huấn luyện chuyển loại từ lái MiG.17 sang lái A-37 chiến lợi phẩm thu được của địch. Ngày đó, ta dùng A-37 của địch để đánh chúng nhằm tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, khiến chúng trở tay không kịp. Các phi công xuất sắc nhất Trung đoàn 923 Anh hùng: Nguyễn Văn Lục - Phi đội trưởng, Trần Cao Thăng - Chính trị viên, Từ Ðễ - Phi đội phó, Vũ Khởi Nghĩa, Tạ Ðông Trung và Mai Xuân Vượng được triệu tập nghiên cứu lý thuyết của loại A-37 dưới sự chỉ huy, huấn luyện trực tiếp của đồng chí Phạm Ngọc Lan (nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, là người ghi chiến công đầu của không quân ta bắn rơi máy bay Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng năm 1965).
A-37 là loại máy bay cường kích hạng nhẹ, hệ đo lường, cách bố trí trong khoang lái khác hẳn MiG.17. Hệ thống điều khiển của loại này rất phức tạp. Chúng tôi từ cán bộ chỉ huy đến các phi công tích cực nghiên cứu lý thuyết theo tài liệu cũ của địch; sử dụng hai phi công lái máy bay A-37 của ngụy là: Trần Ngọc Xanh và Trần On (đưa từ trại Phi Hổ về) hướng dẫn những thao tác cụ thể. Ngày 24-4 tôi và anh Xanh bay thử. Chuyến bay thành công, tôi tiếp tục hướng dẫn các anh Lục, Vượng, Quảng, Thăng lần lượt chuyển loại lái A-37 tốt. Ðồng chí Trần Mạnh - Tham mưu phó Binh chủng Không quân (sau này là Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng).
Ngày 25-4 anh Nguyễn Thành Trung ra Ðà Nẵng huấn luyện cùng phi đội. Anh Trung thực hiện bay phục hồi một chuyến. Sở chỉ huy thấy phi đội bay đã chuẩn bị tốt, tất cả đã sẵn sàng. Trưa 27-4 chúng tôi tới sân bay Phù Cát. Ðồng chí Tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri giao nhiệm vụ cho Xanh và On bay kiểm tra 5 chiếc A-37 ngay chiều hôm đó và xác định cả 5 chiếc đều ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu tốt.
Sau khi nghiên cứu kỹ sáu mục tiêu trên bản đồ quân sự, Bộ Tư lệnh Quân chủng quyết định chọn sân đỗ máy bay trên sân bay Tân Sơn Nhất làm mục tiêu cho máy bay ta oanh kích. Ðòn táo bạo này ta đánh thẳng vào trung tâm sào huyệt của địch, cơ sở cuối cùng tổ chức di tản của chúng. Tối 27-4 chi bộ phi đội bay chúng tôi họp ra nghị quyết: Ðơn vị kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cấp trên phê chuẩn cho năm phi công: Nguyễn Văn Lục, Từ Ðễ, Nguyễn Thành Trung, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng và phi công ngụy Trần On tham gia trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Chiều 27 quân giới kiểm tra, báo cáo cả 6 chiếc A-37 đều ở trạng thái tốt.
Sáng sớm 28-4, có một chiếc bị trục trặc. Cấp trên quyết định Trần On ngồi cùng ca-bin với Vượng. Cả phi đội năm chiếc A37 bay từ Bình Ðịnh vào sân bay Phan Rang. 10 giờ sáng, hạ cánh an toàn. Nghỉ ăn trưa, đến 1 giờ chiều cả phi đội chúng tôi lên nhận nhiệm vụ. Tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri giao nhiệm vụ cho từng người: Nguyễn Thành Trung thông thạo địa hình bay dẫn đường và có nhiệm vụ cắt bốn quả bom làm hai đợt đánh dấu khu vực oanh kích cho anh em bay sau rải thảm. Từ Ðễ số hai có nhiệm vụ cắt bốn quả bom lần lượt và các anh em khác cũng cắt bom tương tự.
Anh Tri nhấn mạnh:
- Trận này có hai ý nghĩa rất lớn: Một là tín hiệu thể hiện mệnh lệnh tổng tiến công và nổi dậy của toàn chiến trường. Hai là thể hiện thái độ của phía ta, kiên quyết chiến đấu giải phóng miền nam. Không đàm phán nữa! Biên đội ta là Biên đội quyết thắng nên phải bằng mọi cách ta lập công. Tình huống xấu nhất: Còn một chiếc bay vào đến nơi cũng đánh.
16 giờ 25 phút hai phát pháo hiệu đỏ: Lệnh cất cánh! Chúng tôi lần lượt vút lên không trung. Thành Trung số 1, Từ Ðễ số 2, Lục số 3, Vượng và On số 4, Quảng số 5. Ðội hình hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau 150-200 m để dễ cơ động. Chúng tôi phải bay rất thấp để tránh ra-đa địch phát hiện nên rất tốn dầu. Ra đến Vũng Tàu, hòa vào đường bay của địch chúng tôi mới nâng độ cao lên được. Thời tiết hôm đó không thuận lắm. Chúng tôi gặp một đám mây lớn đang kéo về và phía quận 1 Sài Gòn, trời đang mưa rất to. Sân bay Tân Sơn Nhất vừa tạnh mưa. Chúng tôi bay đến vừa kịp nhận ra sân bay. Thật may, nếu đến sớm hơn 5 phút thì gặp cơn mưa trước hoặc đến sau 5 phút thì cơn mưa tiếp theo ào đến sẽ vô cùng khó khăn cho chúng tôi phát hiện mục tiêu.
Thành Trung hô:
Số 1 vô! - Anh bổ nhào cắt bom.
Thấy anh bổ nhào, nhưng mặt đất vẫn lặng im. Tiếng nói trong bộ đàm vang lên:
- Xin cho biết A-37 của phi đoàn nào! Xin cho biết A-37 của phi đoàn nào! Ðịch đã phát hiện ra máy bay không có trong lịch bay. Anh Trung kêu:
- Bom không ra! Rồi vọt lên lấy độ cao để bổ nhào lần 2.
Tôi bổ nhào cắt bom. Bốn quả bom lần lượt nổ. Khói bốc mù mịt. Anh Lục số 3 bổ nhào cắt bom, nhưng cũng chỉ ra có hai trái. Lục vọt lên lấy độ cao để thực hiện cắt lần 2. Các số 4 và 5 lần lượt cắt bom. Những trái bom đều trúng đích. Thành Trung bổ nhào lần 2. Bom vẫn không ra. Chúng tôi vòng lại bắn yểm trợ cho anh. Lần thứ ba, Trung phải thực hiện cắt bom khẩn cấp. Cả bốn quả bom cùng giá treo rời khỏi máy bay cùng một lúc. Một cột khói bốc cao giữa bãi đậu máy bay tiêm kích F-5 của địch. Lục số 2 thao tác lần hai, bom vẫn không ra được đành phải lái máy bay quay về vì nhiên liệu sắp cạn. Sân bay Tân Sơn Nhất khói lửa mịt mù. Ðịch thông báo qua vô tuyến điện:
- Sân bay Tân Sơn Nhất đang bị oanh kích!
Chúng tôi bay về, gặp cơn mưa lớn. Tất cả chui vào mây không còn nhìn thấy nhau nữa. Một lát sau ra khỏi mây, năm anh em nhìn thấy nhau mừng khôn xiết. Bay gần đến Phan Thiết, bỗng thấy chớp lửa dưới đất nhằng nhằng. Anh Lục hô:
- Tránh sang phải! Pháo từ dưới đất bắn lên!
Chúng tôi phải hạ thấp độ cao để tránh pháo cao xạ của ta, nên càng tốn dầu. Về đến Phan Rang, tôi xin phép hạ cánh trước vì dầu đã cạn. Xuống đến sân bay, đồng hồ báo hết nhiên liệu ngừng hoạt động. Tôi cho máy bay chạy theo quán tính dạt vào một bên để anh em tiếp tục hạ cánh. Thành Trung cũng xin hạ cánh khẩn cấp vì hết nhiên liệu. Anh Lục bay thêm một vòng trên sân bay để yểm hộ cho anh em. Hán, Quảng hạ cánh an toàn. Lục hạ cánh sau cùng. Lúc đó là 18 giờ 15 phút ngày 28-4-1975. Chúng tôi ôm lấy nhau, sung sướng đến nghẹt thở. Trận ấy biên đội chúng tôi đã phá hủy, làm hư hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiếc A-37 và F-5E, 4 chiếc vận tải, diệt hàng trăm tên địch.
Từ đó đến nay đã 33 năm rồi, năm anh em chúng tôi mỗi người một ngả theo nhiệm vụ mà Ðảng và Quân đội phân công. Hằng năm, cứ đến dịp này chúng tôi lại tập trung gặp nhau để ôn lại chiến công năm ấy và chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hiện tại. Phi đội ngày ấy, bây giờ vắng bóng Mai Xuân Vượng. Anh đã hy sinh trong một vụ tai nạn máy bay hồi năm 1976. Anh Thành Trung vẫn đang phục vụ trong Hãng hàng không Việt Nam Airline, các anh Lục, Quảng và tôi lần lượt nghỉ hưu vui cùng con cháu và tham gia công tác xã hội.