III - Tiếp tục đi con đường thời đại, kiện định, đổi mới, sáng tạo
Ý kiến phủ định thời đại chúng ta vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là một bước lùi về lập trường chính trị cơ bản, xuất phát. Thực tế nếu vậy thì đất nước ta, Ðảng ta từ nay đi con đường nào đây? Và nếu vậy thì phải chăng Cương lĩnh của Ðảng năm 1991 đã không còn căn cứ thời đại?
1. "Chuyển đổi" sang con đường tư bản chủ nghĩa chăng? Ðã có những ý kiến như thế, nhưng tuyệt đối không thể chấp nhận. Ðúng là sau thảm họa "sụp đổ" ở Liên Xô, Ðông Âu, chủ nghĩa tư bản căn bản chiếm lĩnh phần lớn trận địa thế giới. Nhưng vận mệnh và tiền đồ chủ nghĩa tư bản sẽ như thế nào?
Chủ nghĩa tư bản đã có lịch sử hơn 500 năm. Nó đã có những cống hiến cực kỳ to lớn cho loài người. Nó đã tạo ra những lực lượng sản xuất không những đồ sộ mà ngày càng tinh xảo, tinh vi, những máy móc "thông minh", những vật liệu, năng lượng kỳ diệu, v.v... Với đại công nghiệp, nó đã tạo ra thị trường thế giới thay cho tình trạng biệt lập trước đó của các địa phương và dân tộc vốn tự cung tự cấp. Do xâm chiếm thuộc địa, bóp nặn thị trường thế giới, chủ nghĩa tư bản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới. Chính chủ nghĩa tư bản đã có công làm cho lịch sử biến thành lịch sử thế giới. Nhưng đó là thế giới gì?
Trước Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đó toàn thị là thế giới tư bản bao gồm các "chính quốc" và cả hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Từ sau Tháng Mười năm 1917 đến 1991, thế giới phân chia thành hai hệ thống đối lập. Sau khi Liên Xô và Ðông Âu tan rã, chủ nghĩa tư bản chiếm lĩnh đa phần thế giới, bản đồ chính trị thế giới thay đổi căn bản. Lịch sử phải chăng "kết thúc" ở chủ nghĩa tư bản, tột đỉnh của văn minh loài người? Thực tiễn thế giới "hậu Xô viết" đã sớm bác bỏ kết luận sai lầm ấy. Có điều cần ghi nhận: Ngày nay ít ai còn mang ảo tưởng chủ nghĩa tư bản sắp chết đến nơi, nhưng phải chăng số người tin tuyệt đối vào sức sống vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản cũng ngày càng vơi dần? xem ra đa số đánh giá chủ nghĩa tư bản còn lâu mới tiêu vong nhưng cuối cùng nhất định nó không tránh khỏi tiêu vong.
Thật ra sức sống còn lại của chủ nghĩa tư bản mà đôi khi có người choáng ngợp, một phần do nó vốn chưa thật cạn kiệt, còn một phần rất quan trọng là do những yếu kém, sai lầm dẫn đến sụp đổ cay đắng một mảng lớn chủ nghĩa xã hội hiện thực. Một sự thật nữa cũng đáng lưu ý là tâm trạng hoan hỉ của phương Tây trước sự sụp đổ của Liên Xô chỉ được nhất thời; sau đó, khi không còn địch thủ đáng gờm phải đối mặt, thì những đầu óc ít nhiều tỉnh táo, sáng suốt trong các học giả và chính khách phương Tây bình tĩnh quay về nhìn lại bản thân chủ nghĩa tư bản, đã kịp thời cảnh báo: coi chừng nguy cơ đe dọa vận mệnh chủ nghĩa tư bản vốn ra không phải từ phía chủ nghĩa xã hội, từ Liên Xô, mà chính từ ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Rõ ràng chủ nghĩa tư bản cũng đang "tự phản tỉnh", "tự phê phán", đang thấy khó mà tự duy trì nếu không có phép gì mầu nhiệm hơn những phép đã dùng gần như cạn kiệt để tự điều chỉnh, thích nghi. Những khái niệm "xã hội hậu tư bản", hay "chủ nghĩa tư bản mới", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", hay "chủ nghĩa tư bản của những người lao động", v.v... mà một số học giả phương Tây ưa dùng nói lên hai mặt. Nó vừa là một sự ngụy biện rằng, chủ nghĩa tư bản đã không còn là chủ nghĩa tư bản nữa vì nó không còn bóc lột; vừa là - về khách quan - mặc nhiên thừa nhận chế độ tư bản đích thực, truyền thống, nguyên xi như bản thân nó, đã hết lý do tồn tại, đã hết khả năng tự biện minh; có nghĩa ngay các nhà tư tưởng tư sản cũng đã mất niềm tin ở chính chủ nghĩa tư bản, đã mặc nhiên và gián tiếp phải nói đến một chế độ mới đang gõ cửa chủ nghĩa tư bản.
Trong khi đó, một số người trước đây, sau khi Liên Xô sụp đổ, niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội ở họ bị lung lay dữ, thì từ thực tiễn thế giới hơn 10 năm qua Mỹ hành động ngang ngược với vị thế siêu cường duy nhất, họ có phần suy nghĩ lại rằng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây dù có khuyết tật nặng nề thế nào đi nữa, nhưng thảm họa nhãn tiền ngày nay là không còn Liên Xô, Mỹ đang làm mưa làm gió trên thế giới (tuy đã phải xuống thang dần).
2. Vậy là thế giới đổi thay nhưng thời đại không thay đổi, Ðảng ta, nhân dân ta, đất nước ta, nhất quyết tiếp tục đi con đường thời đại - con đường xã hội chủ nghĩa.
Cần nhận rõ thời đại mặc dù không thay đổi nhưng thời đại lịch sử lớn được chia ra những thời kỳ hay gọi là thời đại nhỏ. Chẳng hạn, về thời đại tư sản, Lê-nin lấy ví dụ Pháp và nói đến mấy thời kỳ: thời kỳ từ cách mạng 1789 đến chiến tranh Pháp - Phổ 1870 - 1871; thời kỳ thứ hai từ 1871 đến chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 - 1918; thời kỳ thứ ba từ thế chiến thứ nhất trở về sau...
Về thời đại lớn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì sao? Cho đến nay có thể chia thành ba thời kỳ kể từ cột mốc Cách mạng Tháng Mười năm 1917. Thời kỳ thứ nhất (từ 1917 đến 1945) là thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi đầu tiên ở một nước; chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và từng bước củng cố; phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ; chiến thắng của loài người tiến bộ trong đó vai trò nổi bật của Liên Xô đối với chủ nghĩa phát-xít.
Thời kỳ thứ hai (1945 - 1991) là thời kỳ chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống thế giới; phong trào giải phóng dân tộc phát triển thành cao trào; ba dòng thác cách mạng cùng dâng cao; đồng thời cũng dần dần xuất hiện và tích tụ những khó khăn và sai lầm, thậm chí sai lầm nghiêm trọng khiến chủ nghĩa xã hội trì trệ và lâm vào khủng hoảng kéo dài, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Ðông Âu rồi Liên Xô.
Thời kỳ thứ ba (từ 1991 về sau) là thời kỳ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và phong trào cộng sản quốc tế khắc phục khủng hoảng, thoái trào để từng bước phục hồi, cải cách, đổi mới và phát triển.
Nắm vững thời đại, do vậy, không thể dừng lại ở bản chất thời đại nói chung mà trong mỗi thời điểm lịch sử cần nhận thật rõ cách mạng đang đứng ở đâu, ở thời kỳ nào, với những đặc điểm gì? Mặt khác, không thể chỉ thấy hiện thực mà không thấy triển vọng, không thể chỉ thấy trước mắt mà không thấy xu thế cơ bản, lâu dài, không thể chỉ thấy cục bộ mà không thấy toàn cục. Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ của Ðảng ta năm 1991 đã sáng suốt chỉ ra (và được Ðại hội VIII, Ðại hội IX khẳng định lại), một tầm nhìn, một tư tưởng chiến lược cơ bản rất đúng đắn, sâu sắc như sau: "Chủ nghĩa xã hội hiện nay đang đứng trước những khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử".
Mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại ngày nay là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại, nhưng hình thái biểu hiện đã khác trước nhiều. Ðó không còn là mâu thuẫn giữa hai hệ thống thế giới đối lập, nhưng cũng không phải sau khi chủ nghĩa xã hội bị sập đổ một mảng lớn thì mâu thuẫn đó không còn. Ngoài một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, khá có trọng lượng, phải kể đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cả đến phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hòa bình, vì độc lập và chủ quyền dân tộc, vì dân chủ và tiến bộ xã hội, những lực lượng này vẫn là lực lượng xã hội chủ nghĩa hoặc đồng minh tự nhiên của chủ nghĩa xã hội.
Hơn nữa, cần phải tính đến những yếu tố mầm mống đang tồn tại trong lòng chủ nghĩa tư bản mà xu hướng khách quan của chúng là ngày càng lớn lên theo chiều phủ định những quan hệ tư bản chủ nghĩa. Ta biết rằng sự phát triển của xã hội loài người, sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, suy đến cùng, luôn được thực hiện trên cơ sở phát triển nền sản xuất vật chất và lực lượng sản xuất của xã hội đó.
Ở giai đoạn hiện nay, sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang sinh ra những xu hướng phát triển về khách quan mang tính đối kháng với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đồng thời tự phát tạo ra những cơ sở và tiền đề dẫn tới chế độ mới - chủ nghĩa xã hội, tất nhiên chế độ mới không thể ra đời mà không thông qua những biến đổi cách mạng trong chế độ chính trị dưới hình thức này hay hình thức khác.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất ở giai đoạn xã hội hóa ngày càng cao hiện nay đang thúc đẩy những quá trình tập trung, sát nhập, liên kết ngày càng cao không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên quy mô thế giới, không chỉ về lực lượng sản xuất mà cả sở hữu tư bản thành những hình thức "chủ nghĩa tư bản tập đoàn" của các nhà tư bản kếch sù, thậm chí siêu quốc gia.
Rõ ràng cái vỏ tư nhân tư bản chủ nghĩa đã quá chật chội so với nội dung sức sản xuất cực kỳ đồ sộ mà nó chứa đựng; thậm chí quá chật chội cả với hình thức sở hữu tư bản độc quyền cá nhân. Chính chủ nghĩa tư bản - một cách khách quan - đang tự phủ định mình và đang "làm việc" chuẩn bị cho tương lai chủ nghĩa xã hội.
Từ tính chất xã hội hóa cao của sản xuất và lực lượng sản xuất, cũng xuất hiện trong các nước tư bản phát triển ngày càng nhiều nhân tố mầm mống những quan hệ xã hội tương lai, chẳng hạn các công ty cổ phần trong đó có sự tham gia của những người lao động vào sở hữu và quản lý. Hình thức công ty cổ phần có loại thuộc những "nhà tư bản tập thể" (Ăng-ghen) hoặc "trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội... đối lập với tư bản tư nhân" (1); có loại "nửa nọ nửa kia", một nửa thuộc các chủ tư sản vừa và nhỏ, một nửa cổ đông là những người lao động. "Những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa cũng như những nhà máy hợp tác đều phải được coi là những hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể" (2).
Lại có những doanh nghiệp tự quản thuộc sở hữu của những người lao động, thí dụ: Ở Mỹ có hơn 11 triệu người lao động đang là đồng sở hữu những doanh nghiệp này; ở Thái-lan và nhiều nước tư bản, hợp tác xã của những người lao động rất phổ biến trong nông nghiệp, trong thương nghiệp, trong vận tải, v.v... Bộ Nông nghiệp Thái-lan có tên là Bộ Nông nghiệp, phát triển nông thôn và hợp tác xã. Vậy là, tình hình đúng như hình ảnh mà Lê-nin từng hình dung: ngày nay thì chủ nghĩa xã hội nhìn sang chúng ta từ tất cả các khung cửa của chủ nghĩa tư bản hiện đại; chủ nghĩa xã hội đang hiện ra trực tiếp, trên thực tiễn, trong mỗi biện pháp quan trọng tạo thành một bước tiến trên cơ sở chủ nghĩa tư bản hiện đại ấy.
Cần đánh giá thế nào về chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa? Có người cho rằng, chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay có sức sống hơn bao giờ hết. Nhận định ấy nhiều lắm chỉ đúng một nửa, còn một nửa không đúng, lại là cái nửa thuộc bản chất sự vật và quá trình. Toàn cầu hóa khi vai trò chủ đạo thuộc về chủ nghĩa tư bản thì về bản chất là một quá trình đầy mâu thuẫn, một quá trình vừa hợp tác, liên kết, vừa đấu tranh, trong sâu xa là cả một cuộc đấu tranh (nhiều cán bộ ta không thấy hoặc thấy không sâu, không đầy đủ bản chất này) giữa một bên là quyền lực và lợi ích chi phối, thao túng của những thế lực tư bản quốc tế, các nước lớn tư bản chủ nghĩa, với một bên là chủ quyền và lợi ích các quốc gia dân tộc.
Ðó là mâu thuẫn ngay giữa các nước tư bản chủ nghĩa, giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Ðó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng của cải với phân phối không công bằng dẫn tới phân cực giàu nghèo ngày càng tăng giữa các quốc gia và trong mỗi nước, giữa trung tâm với ngoại vi, giữa bắc với nam, phân cực giàu nghèo ngày càng tăng ngay trong lòng các nước tư bản phát triển. Ðó là mâu thuẫn giữa kinh tế tăng trưởng với văn hóa, đạo đức, xã hội thì suy đồi. Ðó là mâu thuẫn ngay giữa hợp tác với đấu tranh.
Ðã hội nhập thì có hai mặt, vừa cạnh tranh quyết liệt mà vẫn phải hợp tác, bản thân hợp tác cũng lại là đấu tranh và kết quả của đấu tranh. Một mâu thuẫn nữa đặc trưng cho các nước như Việt Nam, Trung Quốc, v.v... ngoài độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, còn có con đường xã hội chủ nghĩa mâu thuẫn với toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản khống chế, với sức ép đi con đường tư bản chủ nghĩa bằng tự do hóa, tư nhân hóa kinh tế, dân chủ, nhân quyền, truyền bá tư tưởng văn hóa đồi bại, từ đó chuyển hóa dần tổ chức, con người và chế độ chính trị. Cùng với những mâu thuẫn xã hội nói trên, ngày càng nổi lên một mâu thuẫn lớn giữa xã hội với tự nhiên biểu hiện ở hiểm họa ngày càng tăng đối với đời sống con người do ô nhiễm và tàn phá môi trường sống, kết quả cuộc chạy đua vì lợi nhuận mà thủ phạm chính là các lực lượng thị trường tư bản chủ nghĩa hoặc chạy theo chủ nghĩa tư bản.
Toàn cầu hóa kinh tế xét trên tầm nhìn rộng và lâu dài, xét về xu thế tương lai mà nó mở ra, là một nhân tố quan trọng của tiến bộ lịch sử, bởi lịch sử xã hội loài người, xét cho cùng, là từ kỹ thuật này tiến lên kỹ thuật khác, từ sức sản xuất thấp đến sức sản xuất cao, đưa đến những nấc thang cao hơn của tiến bộ xã hội và khiến "lịch sử càng biến thành lịch sử thế giới" (C.Mác) mà đỉnh cao sẽ là xã hội cộng sản văn minh. Thế nhưng, toàn cầu hóa hiện nay đang do chủ nghĩa tư bản chủ đạo là một quá trình đầy rẫy những mâu thuẫn như đã nói. Trong những mâu thuẫn đó thì nổi lên trước hết là mâu thuẫn giữa lợi ích bóc lột và chiếm đoạt thuộc chủ nghĩa tư bản độc quyền với chủ quyền và lợi ích các quốc gia dân tộc. Không thấy mâu thuẫn này khi hội nhập, dễ đi đến hòa tan, đưa nền kinh tế quốc gia, thậm chí cả số phận dân tộc trôi nổi trên thị trường toàn cầu đầy rủi ro, bất trắc. Biện chứng khách quan ở đây là toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa chẳng những không xóa đi và không thể xóa đi, trái lại làm nổi hơn lên chủ quyền và lợi ích quốc gia, bản sắc văn hóa dân tộc.
Toàn cầu hóa hiện nay còn mang sâu sắc mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp tư bản độc quyền xuyên quốc gia với giai cấp công nhân và toàn thể những người lao động bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, ngay tại các nước tư bản phát triển. Nếu không thấy mâu thuẫn này mà chỉ nói, chỉ nhấn mạnh vị thế dân tộc, lợi ích dân tộc (dẫu rằng hiện nay nổi bật hàng đầu là lợi ích quốc gia dân tộc) thì dễ sa vào lập trường dân tộc tư sản, đế quốc chủ nghĩa, cực đoan, sô vanh chủ nghĩa ích kỷ, thực dụng, vụ lợi trên những toan tính chính trị và chiến lược đối ngoại. Thực ra những lập trường như vậy, nói cho cùng đã không hiểu thấu được lợi ích chân chính của dân tộc mình. Cứ chủ nghĩa dân tộc đi vào cạnh tranh sinh tồn khốc liệt mạnh được, yếu thua, "cá lớn nuốt cá bé", thì sẽ đẩy thế giới đi vào tranh chấp nhau triền miên, không dứt; nếu cạnh tranh kinh tế và sắc tộc, tôn giáo không thể dàn xếp ổn thỏa trong điều kiện nào đó, nhất là khi dính đến cả lợi ích chính trị, thì có thể dẫn đến những va chạm, bùng nổ, xung đột hoặc chiến tranh cục bộ, thậm chí không loại trừ chiến tranh thế giới có giới hạn, mặc dù hiểm họa này hiện nay ít có khả năng xảy ra, nhưng nhớ rằng hiện đang chớm rộ lên cuộc chạy đua vũ trang mới, kể cả về tên lửa và vũ khí nguyên tử.
Tóm lại, về lý thuyết mà nói, chủ nghĩa tư bản giai đoạn toàn cầu hóa tưởng như có thêm sức sống, nhưng dứt khoát không thể kéo dài mãi vận mệnh của nó như có người nghĩ; trái lại, càng tích lũy thêm nhiều mâu thuẫn mỗi ngày trên phạm vi toàn cầu cho tới khi mâu thuẫn tích tụ tới đỉnh điểm, phép biện chứng "vật cực tắc phản" tất sẽ đưa chủ nghĩa tư bản đến chỗ tan rã. Có thể đến ngày nào đó, giả thuyết của Mác về khả năng thắng lợi đồng thời của chủ nghĩa xã hội trong hàng loạt nước sẽ có cơ hội dễ hình dung hơn. Ðồng thời, với hệ thống thế giới toàn cầu hóa phát triển rất không đều và đầy rẫy những bất bình đẳng, bất công và bất trắc, lý thuyết Lê-nin về khả năng bùng nổ cách mạng trước hết ở những "khâu yếu trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc" càng rất có cơ sở. Tình hình phái "tả" đang nổi lên ở các nước Mỹ la-tinh là một điển hình tiêu biểu đánh thức nhiều người, và chắc chắn sẽ còn diễn ra nay chỗ này mai chỗ khác.
Tác giả Jan Puhl nổi tiếng viết trong tạp chí Ðức Die Woche ngày 28-1-2000; "Trong vòng 20 năm qua, sự bần hàn và sự thừa thãi luôn đồng hành. Sự chênh lệch ngày càng tăng có thể trở thành ngòi nổ đối với nền dân chủ (= chế độ tư bản) trên phạm vi toàn cầu". Ông ta còn viết "Quá trình toàn cầu hóa đã hợp nhất những người vô sản trên toàn thế giới vào cuộc đấu tranh mang tính toàn cầu" (3).
Còn chủ tịch câu lạc bộ Roma là ngài Ricardo Diez Hochleitner (người Tây Ban Nha) thì viết: "Nghèo đói không chỉ là một vấn đề nghiêm trọng đối với những người bị đụng chạm trực tiếp. Khi tình trạng bần cùng hóa vẫn tiếp diễn như hiện nay thì có nguy cơ sẽ nổ ra một cuộc cách mạng có thể dụng chạm đến các nước giàu có. Khi khoảng cách giàu nghèo tiếp tục mở rộng thì một ngày nào đó có thể sẽ xuất hiện một ông Mác và một ông Lê-nin mới với khẩu hiệu "Những người nghèo trên toàn thế giới hãy liên kết lại" (4).
3- Tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào "quy luật tiến hóa của lịch sử" mà Cương lĩnh Ðảng năm 1991 đã khẳng định, chúng ta càng vững tin vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Ðảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn. Kết hợp nhuần nhuyễn, khôn khéo và thông minh tính kiên định về nguyên tắc và mục tiêu không thay đổi với đầu óc uyển chuyển, tinh thần và khả năng thường xuyên đổi mới, sáng tạo - đó là bí quyết thành công trong công cuộc tiếp tục phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta cho đến đích cuối cùng.
Có thể hình dung thế nào mô hình về sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta? Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng đã vạch rõ những điểm căn cốt nhất trong bức tranh tổng thể, rồi đây sẽ được nghiên cứu bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm. Tôi nghĩ những ý sau đây nên làm đậm nét hơn trong Cương lĩnh: đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Ðảng Cộng sản Việt Nam; dân chủ hóa đời sống trong Ðảng và trong xã hội đi đôi với kỷ cương, phép nước chặt chẽ, với chuyên chính đối với những kẻ thù chống lại lợi ích Tổ quốc và nhân dân; tăng trưởng kinh tế gắn chặt với công bằng xã hội và chính sách xã hội; phát triển rất mạnh giáo dục, văn hóa, khoa học, xây dựng con người mới, đào tạo nhân tài, tạo dựng cho được nền tảng tinh thần xã hội cao đẹp; kiên quyết lành mạnh hóa đạo đức xã hội và lối sống con người..., bài trừ cho được các tệ nạn xã hội, sự tha hóa xuống cấp trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức.
IV. Chớ ảo tưởng vào chủ nghĩa xã hội dân chủ, vào "con đường thứ ba"
Giữa lúc tình hình thế giới còn rối ren, lộn xộn, lịch sử chưa định hình, những xáo động về tư tưởng là không tránh khỏi. Người ta tuyên bố xã hội đương đại có 3, 7 đường, thậm chí hàng trăm con đường chứ không chỉ có một. Ðáng trách là có những kẻ dao động nghiêm trọng về lý tưởng cách mạng mà họ vẫn tôn thờ, họ quay sang con đường xã hội dân chủ, hay "con đường thứ ba".
Tình cờ đến tay tôi một tài liệu có "giá trị tổng kết" so với không ít tài liệu thuộc loại này mà tôi đã được đọc từ sách báo thế giới. Tác giả tài liệu là Tạ Thao (nguyên Hiệu phó Trường đại học Nhân dân Trung Quốc) do Tam Dương dịch (đăng trên tạp chí Viêm hoàng Xuân thu số 2 năm 2007). Tác giả Tạ Thao cho biết, ông cũng dựa nhiều ý tưởng vào cuốn sách Lời kết thúc của Tân Tử Lăng, nguyên Ðại tá, nghiên cứu viên Học viện Quốc phòng, cấp sư đoàn trưởng Quân Giải phóng Trung Quốc. Sau đây xin trích dẫn nguyên văn một số đoạn trong tài liệu ấy:
- Tạ Thao "tổng kết": "Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa phát-xít bị tiêu diệt, chủ nghĩa đế quốc suy thoái, trên thế giới còn lại ba loại chế độ xã hội triển khai cạnh tranh hòa bình. Loại thứ nhất là chủ nghĩa tư bản do Mỹ làm đại biểu, loại thứ hai là chế độ cộng sản do Liên Xô làm đại biểu, loại thứ ba là chủ nghĩa xã hội dân chủ do Thụy Ðiển làm đại biểu. Kết quả cạnh tranh là chủ nghĩa xã hội dân chủ thắng lợi, vừa diễn biến chủ nghĩa tư bản, vừa diễn biến chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội dân chủ đang thay đổi thế giới". Tạ Thao cho biết: Trong cuốn sách Lời kết thúc của mình, Tân Tử Lăng đã trình bày một cách sinh động mà sâu xa quá trình phát triển lịch sử này.
- Theo Tạ Thao, "thành tựu vĩ đại nhất của chủ nghĩa xã hội dân chủ tại những nước tư bản già cũ, thông qua phát triển sức sản xuất và điều tiết phân phối, về cơ bản tiêu diệt được chênh lệch thành thị và nông thôn, chênh lệch công nông, chênh lệch giữa lao động chân tay và lao động trí óc, tạo nên chủ nghĩa xã hội dân chủ huy hoàng. Thành tựu này làm cho mô hình chủ nghĩa xã hội bạo lực của Liên Xô trở nên âm u, mờ nhạt. Ðó là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy Liên Xô và các nước Ðông Âu diễn biến hòa bình. Những người Ðảng xã hội dân chủ dùng biện pháp đoàn kết giai cấp tư sản, phát triển sức sản xuất tiên tiến, thực hiện cùng giàu, chênh lệch ngày càng rút ngắn...".
- "Kết quả gần đây cho thấy có 61 nghị sĩ hai viện thượng hạ Mỹ (toàn là người Ðảng Dân chủ) là hội viên của "chủ nghĩa xã hội dân chủ Mỹ". Quan niệm kinh tế của Ðảng Dân chủ Mỹ bắt rễ từ tư tưởng kinh tế của Mác và Keynes, chủ trương Chính phủ hướng dẫn kinh tế thị trường, quốc hữu hóa ở mức độ thích hợp, thực hiện bảo hiểm y tế toàn cầu. Chính phủ làm trường học, miễn thu thuế người nghèo, nâng cao phúc lợi, nâng cao mức lương tối thiểu, quan tâm nhiều hơn đến nhóm những người dễ bị tổn thương. Ðảng Cộng hòa lên cầm quyền cũng không thay đổi chính sách xã hội của Ðảng Dân chủ Mỹ. Chủ nghĩa xã hội đã "đỏ hóa" nước Mỹ".
Như mọi người đều biết, trên thế giới chủ nghĩa xã hội dân chủ đã có rất nhiều sách báo khác nhau nói đến. Về Ðảng xã hội dân chủ thì hết sức đa dạng, trong đó Tạ Thao và Tân Tử Lăng giỏi lắm chỉ đại biểu cho một Ðảng hay một phái Dân chủ xã hội nào đó. Về "con đường thứ ba" cũng có rất nhiều ngả khác nhau. Nội dung tài liệu Tạ Thao cơ bản là xuyên tạc lịch sử ca tụng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chống cộng, nhưng cũng có một số tổng kết nhất định đặc trưng cho chủ nghĩa xã hội dân chủ nói chung. Trên đây tôi trích nguyên văn một số đoạn mà không phân tích, bình luận gì vì thiết tưởng mấy câu trích, đoạn trích đã đủ nói rõ tất cả quan điểm của Tạ Thao: chủ nghĩa xã hội dân chủ là gì và họ là ai? Họ muốn gì? Tôi chỉ đặc biệt lưu ý một điểm: Tạ Thao đã cố tình xuyên tạc, bóp méo Mác, Ăng-ghen và chủ nghĩa Mác, biến chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa xã hội dân chủ một cách cực kỳ xảo trá và trắng trợn. Ông ta viết:
"Sau khi Mác, Ăng-ghen tổng kết bài học kinh nghiệm của cách mạng, thừa nhận sai lầm năm 1848 (5), bảo lưu phương thức sản xuất tư bản, tiến vào chủ nghĩa xã hội một cách hòa bình, đó mới là thành quả tối cao của Tư bản luận, mới là chủ đề của chủ nghĩa Mác, mới là chính thống của chủ nghĩa Mác. Những điều chính thống này gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ"(!?).
Tôi nghĩ những độc giả quan tâm sâu vấn đề chắc sẽ đọc kỹ Ăng-ghen trong "Lời nói đầu tác phẩm của Mác" "Ðấu tranh giai cấp ở Pháp" và trong bài trả lời phỏng vấn báo Le Figaro của Ăng-ghen (xem Mác và Ăng-ghen toàn tập, tập 22, trang 752 và trang 803) từ đó có thể vạch trần Tạ Thao đã xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ Mác, Ăng-ghen và chủ nghĩa Mác như thế nào.
Trong cuốn Ðường Cách mệnh năm 1927, Bác Hồ đặt vấn đề: "Cách mệnh trước hết phải có cái gì? - Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Ðảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy - Ðảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Ðảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Ðảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắc nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin".
Ðó là hệ tư tưởng và con đường cách mạng trước sau như một của Ðảng ta và nhân dân ta - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ðó là tư tưởng cơ bản xuyên suốt Cương lĩnh của Ðảng năm 1930, năm 1991, đường hướng cách mạng của Ðảng ta và nhân dân ta hiện nay và mãi vẫn như thế. Giai đoạn hiện nay phải rất kiên định và sáng tạo hơn bao giờ hết trên đường hướng đó.