Tiếp tục lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Ðể lãnh đạo toàn Ðảng, toàn dân thực hiện thắng lợi các yêu cầu, nhiệm vụ đó theo đúng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa VIII đã tiến hành Hội nghị lần thứ 5 và ra nghị quyết chuyên đề về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết khẳng định: "Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HÐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Với năm quan điểm chỉ đạo và 10 nhiệm vụ trọng tâm, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa VIII đã kế thừa và phát huy được các giá trị khoa học, lý luận to lớn của Ðề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, trở thành cương lĩnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ CNH, HÐH đất nước. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị T.Ư 10 khóa IX.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết đặt ra, với chức năng là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về văn hóa-thông tin, giữ vai trò chủ đạo trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, Ban Cán sự Ðảng, lãnh đạo Bộ Văn hóa-Thông tin đã tập trung chỉ đạo xây dựng chương trình hành động của Chính phủ và chương trình hành động của bộ thực hiện Nghị quyết T.Ư 5, đề ra các giải pháp đồng bộ, sát hợp thực tiễn, đưa Nghị quyết thấm sâu, lan rộng và phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội.

Bộ Văn hóa-Thông tin đã phối hợp Ban Tư tưởng-Văn hóa T.Ư triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung nghị quyết tới các cán bộ chủ chốt trong ngành, các văn nghệ sĩ, cán bộ, công chức và nhân dân; định hướng và chỉ đạo các địa phương xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã, các ngành, đoàn thể và tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Nhờ được phổ biến rộng khắp, có tính hệ thống từ T.Ư đến cơ sở, Nghị quyết T.Ư 5 đã nhanh chóng đi vào đời sống, tạo sự chuyển biến hết sức căn bản trong nhận thức và hành động cách mạng của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và đại bộ phận nhân dân về văn hóa với vai trò là nền tảng tinh thần, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 14 đề án trong Chương trình hành động của Bộ Văn hóa-Thông tin thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 hầu hết đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành. Ðặc biệt, ngày 21-4-2000, tại tỉnh Quảng Nam, Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa chính thức được phát động. Ðây là một trong những giải pháp chính thực hiện nghị quyết, được các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và đông đảo các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, đã và đang phát huy hiệu quả xã hội rõ rệt. Ở các địa phương, tỉnh ủy, HÐND, UBND các tỉnh, thành phố cũng đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với các đề án xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở địa phương mình. Các chỉ tiêu phát triển văn hóa được đưa vào nghị quyết, chương trình hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện. Nhiều tỉnh ủy đã ban hành văn bản hướng dẫn phân loại tổ chức cơ sở đảng, trong đó công tác lãnh đạo xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa là một trong những tiêu chuẩn xếp loại chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Sau hơn bảy năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII, năm năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, diện mạo văn hóa nước ta đã có sự chuyển biến căn bản, bước đầu đã đạt được những kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng. Con người mới Việt  Nam với năm đức tính cơ bản được Nghị quyết T.Ư 5 đề ra dần được xác định với đức tính cần cù, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn trong lao động, ý chí vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và đất nước. Môi trường văn hóa có bước chuyển biến mới. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, bản, ấp, khu phố, cơ quan, công sở văn hóa... phát triển rộng rãi, đem lại hiệu quả thiết thực. Thuần phong mỹ tục và truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy. Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội có nhiều tiến bộ. Nhiều công trình, thiết chế văn hóa trọng điểm được đầu tư xây dựng. Ðời sống tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa ngày càng được nâng cao. Sự nghiệp văn học nghệ thuật có điều kiện phát triển toàn diện. Các tác phẩm nghệ thuật đi sâu vào những vấn đề nóng bỏng của xã hội, phát hiện, đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực và kịp thời biểu dương những nhân tố mới. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thu được những kết quả to lớn. Nhiều dự án tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được triển khai thực hiện. Hàng loạt cuộc khai quật lớn, các đề tài khoa học, các dự án bảo tồn các di sản văn hóa thuộc nhiều lĩnh vực đã được thực hiện. Các lễ hội cổ truyền, làng nghề được khôi phục, bảo tồn, khai thác và phát huy. Nước ta đã có bảy di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được công nhận di sản văn hóa thế giới. Hệ thống các trường văn hóa-nghệ thuật được nâng cấp. Chất lượng đào tạo được nâng lên một bước. Chính sách văn hóa đối với tôn giáo được quan tâm, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố. Nhiều vùng đồng bào có đạo gương mẫu, đi đầu trong phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa với tinh thần "kính Chúa, yêu nước", sống "Tốt đạo, đẹp đời". Văn hóa các dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn, phát huy và phát triển. Các thiết chế sinh hoạt cộng đồng, lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được phục dựng, bảo tồn. Các tỉnh miền núi được tăng mức đầu tư phát triển sự nghiệp văn hóa, được hưởng chế độ trợ giá phim, băng hình, chiếu bóng lưu động, xuất bản phẩm, báo chí mỗi năm từ 30 tỷ đến 47 tỷ đồng. Thể chế văn hóa được củng cố, xây dựng và hoàn thiện. Ðảng, Chính phủ ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển sự nghiệp văn hóa. Bộ máy tổ chức ngành văn hóa-thông tin từ trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển mạnh. Hợp tác, giao lưu văn hóa và thông tin đối ngoại mở rộng ở nhiều địa bàn, tích cực góp phần nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang đối diện với những khó khăn, tồn tại lớn, biểu hiện cụ thể ở vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức đảng chưa thường xuyên, việc phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Nhận thức về văn hóa trong cán bộ, đảng viên tuy đã được nâng lên, song vẫn chưa đồng đều. Ðặc biệt là tư duy kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng văn hóa, gắn xây dựng văn hóa với xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội còn chậm được đổi mới, chưa thấy hết vị trí quan trọng của văn hóa là một trong ba trụ cột của đời sống xã hội. Việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người trong giai đoạn cách mạng mới còn lúng túng, chưa đi vào chiều sâu. Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã làm các mối quan hệ xã hội ở một số mặt có chiều hướng xuống cấp. Hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội, trong đó có một số cán bộ, đảng viên chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội vẫn còn biểu hiện tiêu cực, những hủ tục lạc hậu chưa bị đẩy lùi. Trong một bộ phận xã hội, nhất là ở lớp trẻ, tình trạng lai căng, sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa và thuần phong mỹ tục tốt đẹp dân tộc còn khá nặng nề. Các tệ nạn xã hội ma túy, cờ bạc, mại dâm, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, hoạt động thiếu lành mạnh ở các quán bar, nhà hàng ka-ra-ô-kê, vũ trường... còn diễn biến phức tạp. Một số nơi, chất lượng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa chưa cao, với những biểu hiện phô trương hình thức, chạy theo thành tích. Ðội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa - thông tin tuy có trưởng thành hơn, nhưng vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật còn thiếu thốn. Ðầu tư cho sáng tác các loại hình văn học - nghệ thuật còn thấp, ít có những tác phẩm, công trình văn hóa nghệ thuật đỉnh cao. Một số di tích lịch sử - văn hóa có giá trị bị xuống cấp chưa được tu bổ kịp thời. Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể bị mai một, chưa có biện pháp hữu hiệu để giữ gìn, bảo tồn. Tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực văn hóa chưa cao. Sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa vùng đô thị với các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng cách biệt. Hệ thống luật pháp về văn hóa - thông tin chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thậm chí ở một số lĩnh vực quan trọng vẫn khuyết luật điều chỉnh; một số văn bản pháp quy không còn phù hợp, hiệu quả điều chỉnh xã hội thấp, nhưng chưa được thay thế kịp thời. Trình độ nghiệp vụ, sự nhạy cảm về mặt chính trị của một bộ phận những người hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí còn thấp. Hiện  tượng  vi  phạm quy định trong thông tin chưa được khắc phục. Tình trạng in, sao băng, đĩa lậu, vi phạm bản quyền chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Chưa có giải pháp quản lý hữu hiệu các hoạt động dịch vụ in-tơ-nét trò chơi trực tuyến...

Kiểm điểm năm năm thực hiện Nghị quyết T.Ư5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa IX đã xác định, mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm tiếp theo là "bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Ðảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ giữa ba lĩnh vực trên là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước".

Ðể thực hiện mục tiêu trên và cụ thể hóa bốn nhóm giải pháp chủ yếu do Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa IX đề ra, ngày 21-12-2004, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ban hành Chương trình hành động của Bộ Văn hóa-Thông tin thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCH T.Ư Ðảng khóa IX, giai đoạn 2005 - 2010, gồm tám đề án được xây dựng mới, 23 đề án, hai dự thảo luật cần tiếp tục hoàn thiện, đẩy mạnh 10 chương trình phối hợp giữa Bộ Văn hóa - Thông tin với các bộ, ngành và tập trung thực hiện 10 nhiệm vụ trọng tâm.

Phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Chương trình hành động thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCH T.Ư Ðảng khóa IX đã xác định, tích cực tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng, trong những năm tới, nội dung công tác của Bộ Văn hóa-Thông tin tập trung vào một số vấn đề cốt lõi như sau:

1- Nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo và đổi mới phương pháp chỉ đạo của Ðảng ủy, trách nhiệm quản lý của chính quyền trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 5, Kết luận Hội nghị T.Ư 10 khóa IX. Tiến hành tổng kết việc thực hiện các chương trình hành động theo nội dung Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII, Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ IX về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đúc kết kinh nghiệm và đề ra phương hướng, biện pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng văn hóa  nước ta trong những năm tiếp theo.

2- Tập trung lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng con người mới với năm đức tính đã được xác định tại Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HÐH đất nước.

3- Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Nâng cao chất lượng và đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, bản, ấp, xã, phường, đơn vị, cơ quan văn hóa. Quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ các địa phương đã có phương án xây dựng huyện, thị xã tiêu biểu về văn hóa.

4- Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Ðổi mới cơ bản công tác quy hoạch và xây dựng pháp luật, bảo đảm nâng cao chất lượng, số lượng văn bản quy phạm pháp luật, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực hoạt động văn hóa - thông tin. Thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Ðảng thể hiện trong Nghị quyết T.Ư 5, Kết luận Hội nghị T.Ư 10 khóa IX bằng các chính sách, cơ chế phù hợp đặc thù của ngành.

5- Tăng cưòng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc; chú trọng việc sưu tầm, nghiên cứu, khai thác các giá trị về văn học, văn hóa, nghệ thuật dân gian nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng; ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào công tác bảo tồn, lưu giữ, phát huy di sản văn hóa dân tộc, xây dựng các ngân hàng dữ liệu về văn hóa-thông tin.

6- Tiếp tục triển khai đồng bộ và nâng cao hiệu quả việc thực hiện các giải pháp xây dựng môi trường văn hóa, theo tinh thần của Chỉ thị 27/CT-TW, Chỉ thị 39/1998/CT-TTg, Chỉ thị 29/2001/CT-TTg và Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ban hành theo Quyết định 308/2005/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kiểm điểm và đánh giá về công tác văn hóa-thông tin vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; phát hiện những nhân tố điển hình, kịp thời khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện các chỉ thị của Ðảng và Nhà nước.

7- Tập trung đầu tư để tạo ra nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng cao. Nâng cấp và xây mới các thiết chế văn hóa nghệ thuật từ trung ương tới địa phương. Ðầu tư xây dựng một số công trình văn hóa lớn. Quan tâm hướng dẫn nội dung hoạt động của hệ thống nhà văn hóa làng, buôn, bản, xã, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy và học tập cho các trường văn hóa nghệ thuật. Chú trọng việc đào tạo tài năng nghệ thuật, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển sự nghiệp văn hóa-thông tin.

8- Phát huy cao nhất tiềm năng nội lực văn hóa. Ðẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm huy động sức người, sức của, sức sáng tạo của nhân dân và các lực lượng xã hội đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa, các hoạt động văn hóa.

9- Tiếp tục chỉ đạo việc thực hiện Chỉ thị 22/CT-TW của Bộ Chính trị khóa VIII, Thông báo 162 của Bộ Chính trị khóa IX về tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản trong tình hình mới, xây dựng nền báo chí - xuất bản nước ta không ngừng phát triển cả về chất lượng nội dung và hình thức.

10- Tiếp tục mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa quốc tế. Tranh thủ mọi nguồn viện trợ của các nước, các tổ chức quốc tế để phát triển văn hóa. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, giới thiệu rộng rãi văn hóa Việt Nam với nhân dân các nước, những người Việt Nam sống xa Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa thế giới để làm giàu cho nền văn hóa của dân tộc.

Ðỗ Quý Doãn
Thứ trưởng Văn hóa-Thông tin

Có thể bạn quan tâm